Theo quy định của pháp luật Việt Nam, khi tiến hành hoạt động kinh doanh, các tổ chức, cá nhân phải đăng ký kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh hoặc tổ chức kinh tế khác (các loại hình doanh nghiệp, hợp tác xã, các tổ chức kinh tế theo luật đầu tư). Tuy nhiên, một số đối tượng thuộc quy định không được đăng ký hộ kinh doanh tại nghị định 01/2021/NĐ-CP. Bài viết dưới đây cung cấp thông tin cho quý bạn đọc về các trường hợp không được đăng ký hộ kinh doanh.

1. Đăng ký kinh doanh là gì?
Đăng ký kinh doanh là nghĩa vụ và quyền lợi của công dân có hoạt động kinh doanh trong lãnh thổ Việt Nam. Theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2014, đăng ký kinh doanh là sự ghi nhận bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về mặt pháp lý sự ra đời của chủ thể kinh doanh.
Tuy nhiên, khái niệm đăng ký kinh doanh này đã bị hủy bỏ trong Luật Doanh nghiệp 2020. Mặt khác, tại khoản 1 điều 3 nghị định 01/2021/NĐ-CP định nghĩa đăng ký doanh nghiệp là việc người thành lập doanh nghiệp đăng ký thông tin về doanh nghiệp dự kiến thành lập, doanh nghiệp đăng ký nhưng thay đổi thông tin về đăng ký doanh nghhieepj với cơ quan đăng ký kinh doanh và được lưu giữ tại cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
2. Hộ kinh doanh là gì?
Hộ kinh doanh không phải là một loại hình doanh nghiệp. Luật doanh nghiệp cũng không có định nghĩa cụ thể về hộ kinh doanh. Hộ kinh doanh được quy định tại Nghị định 01/2021/NĐ-CP.
Theo Khoản 1 Điều 79 Nghị định 01/2021/NĐ-CP: “Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc các thành viên hộ gia đình đăng ký thành lập và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh của hộ. Trường hợp các thành viên hộ gia đình đăng ký hộ kinh doanh thì ủy quyền cho một thành viên làm đại diện hộ kinh doanh. Cá nhân đăng ký hộ kinh doanh, người được các thành viên hộ gia đình ủy quyền làm đại diện hộ kinh doanh là chủ hộ kinh doanh.“
Hộ kinh doanh có sử dụng từ mười lao động trở lên phải đăng ký thành lập doanh nghiệp theo quy định.
3. Đối tượng không được đăng ký hộ kinh doanh theo quy định pháp luật
Theo khoản 1 Điều 80 Nghị định 01/2021/NĐ-CP, cá nhân, thành viên hộ gia đình là công dân Việt Nam có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của Bộ luật Dân sự có quyền thành lập hộ kinh doanh theo quy định tại Chương này, trừ các trường hợp sau đây:
- a) Người chưa thành niên, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; người bị mất năng lực hành vi dân sự; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi;
Trong đó, căn cứ Điều 23 Bộ luật dân sự 2015, để xác định một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì phải có đủ các điều kiện:
- Về khả năng nhận thức và điều kiển hành vi: người thành niên trong tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự;
- Có yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan;
- Có kết luận giám định pháp y tâm thần;
- Có quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Căn cứ theo Điều 24 Bộ luật dân sự 2015, người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố người này là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
Căn cứ theo Điều 22 Bộ luật dân sự 2015, một người bị coi là mất năng lực hành vi dân sự khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:
- Do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi;
- Có yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan;
- Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự theo yêu cầu của những chủ thể trên, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.
b) Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định;
c) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật có liên quan.
Trong khi đó, Nghị định 78/2015 chỉ quy định chung chung về đối tượng không được đăng ký hộ kinh doanh là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự đầy đủ; các hộ gia đình có quyền thành lập hộ kinh doanh và có nghĩa vụ đăng ký hộ kinh doanh…
4. Mọi người cùng hỏi/ Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao một số người không được phép thành lập hộ kinh doanh?
Một số lý do có thể bao gồm hạn chế về nguồn vốn, yêu cầu kỹ năng chuyên môn, hoặc quy định pháp lý nghiêm ngặt.
2. Có những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc không có quyền thành lập hộ kinh doanh?
Một số yếu tố có thể bao gồm quy định pháp lý, tiêu chuẩn tài chính, hoặc kiến thức và kỹ năng cần thiết.
3. Có cách nào để vượt qua rào cản không có quyền thành lập hộ kinh doanh?
Một số cách có thể là tìm đối tác kinh doanh, nhờ sự hỗ trợ từ tổ chức phi lợi nhuận, hoặc tìm các hình thức kinh doanh khác phù hợp với quy định pháp luật.
Trên đây là nội dung về các trường hợp không được đăng ký hộ kinh doanh. Quý bạn đọc có bất kỳ thắc mắc, khó khăn có thể liên hệ với công ty Luật ACC để được hỗ trợ, tránh các vấn đề ảnh hưởng tới quá trình hoạt động của bạn.
Nội dung bài viết:
Bình luận