Thi hành án dân sự là hoạt động đưa bản án, quyết định dân sự hoặc phần dân sự trong trong bản án, quyết định về hình sự của tòa án có hiệu lực pháp luật ra thi hành, làm cho các phán quyết có hiệu lực trên thực tế nhằm bảo vệ quyền lợi của cá nhân, cơ quan, tổ chức.
Nhận định đúng sai Luật thi hành án dân sự (Có giải thích)
Câu 1: Việc thông báo trực tiếp cho đương sự không được thực hiện bằng điện tín, fax, mail.
Nhận định Sai
CSPL Điều 39 LTHADS và Điều 12 NĐ 62/2015
Theo khoản 2 điều 12 NĐ 62/2015 quy định: “Trường hợp đương sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan yêu cầu được nhận thông báo bằng văn điện tín, fax, emial hoặc hình thức khác thì việc thông báo trực tiếp có thể được thực hiện theo hình thức đó nếu ko gây trở ngại cho cơ quan thi hành án dân sự.”
Như vậy theo quy định này thì việc thông báo trực tiếp cho đương sự hoàn toàn có thể được thực hiện bằng điện tín, fax, mail trong trường hợp thực hiện việc thông báo theo hình thức đó không gây trở ngại cho cơ qua thi hành án dân sự.
Như vậy việc thông báo trực tiếp cho đương sự được thực hiện thông qua hai cách:
- Giao trực tiếp văn bản thông bảo cho cá nhân và yêu cầu người đó ký nhận hoặc
điểm chỉ.
- Thực hiện bằng cách gửi điện tín, fax, email hoặc hình thức khác nếu có yêu cầu
Lưu ý: trong cách thứ hai, để đảm bảo rằng email… đã được gửi đến các đương sự thì CHV phải tuân thủ quy trình thủ tục như K2 Điều 2 TTLT11/2016 quy định: “ 2. Trường hợp thông báo bằng điện tín, fax, email hoặc hình thức khác theo yêu cầu của người được nhận thông báo thì Chấp hành viên phải lưu vào hồ sơ thi hành án văn bản thể hiện yêu cầu, văn bản cần thông báo và văn bản thể hiện kết quả thông báo như bức điện tín, thư điện tử, báo cáo bản fax đã được gửi.”
Câu 2: Chấp hành viên chỉ được kê biên tài sản tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án và các chi phí cưỡng chế cần thiết.
Nhận định Đúng
Cơ sở pháp lý: điều 71, Điều 8 NĐ 59/2009
Kê biên tài sản là một biện pháp cưỡng chế thi hành án, theo khoản 8 điều 1 NĐ 33/2020 chấp hành viên : “Chấp hành viên được áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án trong trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định tại Điều 130 Luật Thi hành án dân sự.
Việc áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế thi hành án phải tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án và các chi phí thi hành án theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp tài sản duy nhất của người phải thi hành án lớn hơn nhiều lần so với nghĩa vụ thi hành án mà tài sản đó không thể phân chia được hoặc việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản; tài sản bảo đảm đã được bản án, quyết định tuyên xử lý để thi hành án hoặc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 24 Nghị định này.”
Như vậy, trong trường hợp tài sản duy nhất của người phải thi hành án có giá trị lơn hơn nghĩa vụ phải thực hiện thì CHV vẫn có quyền kê biên tài sản đó mặc dù là tài sản đó có giá trị lớn hơn nghĩa vụ cần thực hiện
Câu 3: Việc thông báo cho đương sự chỉ do chấp hành viên tiến hành.
Nhận định Đúng.
Luật Thi hành án dân sự 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) quy định:
Điều 39 Luật Thi hành án dân sự 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), quy định: Quyết định về thi hành án, giấy báo, giấy triệu tập và văn bản khác có liên quan đến việc thi hành án phải thông báo cho đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để họ thực hiện quyền, nghĩa vụ theo nội dung của văn bản đó.
Điều 40 Luật Thi hành án dân sự 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), quy định: Việc thông báo được thực hiện bằng một trong các hình thức sau: Giao trực tiếp cho đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Gửi qua bưu điện; Công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp, việc thông báo có thể được thực hiện bởi người khác ngoài chấp hành viên, ví dụ như:
Khi đương sự tự nguyện thực hiện nghĩa vụ: Khi đương sự tự nguyện thực hiện nghĩa vụ thi hành án, chấp hành viên có thể giao cho đương sự thông báo cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Khi có yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác: Khi có yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác, chấp hành viên có thể ủy quyền cho họ thông báo cho đương sự.
Câu 4: Chấp hành viên chỉ có quyền định giá tài sản kê biên từ mười triệu đồng trở xuống.
Nhận định này là sai
Điều 90 Luật Thi hành án dân sự 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), Chấp hành viên có quyền và trách nhiệm xác định giá tài sản kê biên.
Điều 91 Luật Thi hành án dân sự 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), Việc xác định giá tài sản kê biên được thực hiện theo các hình thức sau:
Dựa vào giá thị trường: Chấp hành viên căn cứ vào giá thị trường của tài sản cùng loại, có chất lượng tương đương tại thời điểm kê biên để xác định giá.
Thuê định giá: Chấp hành viên có thể thuê tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật về định giá tài sản để thực hiện việc định giá.
Căn cứ vào giá trị khai thác, sử dụng: Đối với tài sản không có giá thị trường hoặc giá thị trường không phù hợp với giá trị khai thác, sử dụng, Chấp hành viên căn cứ vào giá trị khai thác, sử dụng của tài sản để xác định giá.
Do đó, không có quy định nào về việc chỉ có Chấp hành viên mới có quyền định giá tài sản kê biên từ mười triệu đồng trở xuống.
Câu 5: Chỉ có thủ trưởng cơ quan thi hành án mới có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án
Nhận định này là sai.
Theo quy định của Luật Thi hành án dân sự 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2014):
Điều 155: Các trường hợp được tạm đình chỉ thi hành án: Có yêu cầu kháng nghị bản án, quyết định của Viện kiểm sát nhân dân; Có yêu cầu giám đốc thẩm, tái thẩm; Có yêu cầu đình chỉ thi hành án; Có yêu cầu hoãn thi hành án; Người phải thi hành án là người có công với cách mạng, người thuộc diện hưởng chính sách ưu đãi; Có yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Do trường hợp bất khả kháng.
Quyền ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án thuộc về:
Thủ trưởng cơ quan thi hành án: Trong trường hợp có yêu cầu kháng nghị bản án, quyết định của Viện kiểm sát nhân dân; Có yêu cầu giám đốc thẩm, tái thẩm; Có yêu cầu đình chỉ thi hành án; Có yêu cầu hoãn thi hành án; Người phải thi hành án là người có công với cách mạng, người thuộc diện hưởng chính sách ưu đãi; Do trường hợp bất khả kháng.
Kiểm sát viên: Khi có yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Nội dung bài viết:
Bình luận