-
1. Tạo vấn đề
Hiện nay, du lịch được coi là một trong những ngành kinh tế lớn nhất thế giới, chiếm hơn 30% tổng giá trị thương mại dịch vụ và là ngành có tốc độ phát triển nhanh nhất. Trong bối cảnh đó, các nước đang phát triển có nhiều cơ hội để phát triển ngành “công nghiệp không khói” này, Việt Nam là một trong những quốc gia có nhiều tài nguyên thiên nhiên và nhân văn độc đáo, phong phú để phát triển du lịch.
Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam đã từng bước “tích cực hội nhập quốc tế để phát triển đất nước, nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016). Quyết định số 2473/QĐ-TTg ngày 30/12/2011 của Bộ trưởng Bộ trưởng phê duyệt “Chiến lược phát triển du lịch miền Nam Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” và gần đây là việc công bố Nghị quyết số 08-NQ/ của Bộ Chính trị TW ngày 16/01/2017 “về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn”. và xem “Sự phát triển của ngành du lịch đã góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và xuất khẩu của địa phương; bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, tài nguyên thiên nhiên; tạo thêm việc làm, nâng cao mức sống của người dân; đẩy mạnh tiến trình hội nhập quốc tế, quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2017). Cùng với các ngành kinh tế khác, du lịch nước ta phát triển rất mạnh mẽ, thu hút nhiều khách du lịch trong và ngoài nước, chiếm tỷ trọng cao trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Ngoài việc tạo công ăn việc làm cho người dân, đảm bảo an sinh xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng, ngành du lịch Việt Nam còn đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của các ngành khác. Đặc biệt, hoạt động du lịch của khách quốc tế mang lại nguồn thu ngoại tệ đáng kể thông qua việc tiêu dùng du lịch và các sản phẩm khác trong cả nước. Về cơ bản, đây là một doanh nghiệp xuất khẩu địa phương vì các sản phẩm được sử dụng tại địa phương mà không qua biên giới Việt Nam như xuất khẩu nguyên liệu thô thông thường.
2. Xuất khẩu địa phương thông qua du lịch
2.1. Một số vấn đề cơ bản
Bách khoa toàn thư mở viết: “Xuất khẩu hay xuất khẩu, theo lý thuyết thương mại quốc tế, là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho nước ngoài, trong cách tính toán cán cân thanh toán theo IMF, đó là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho nước ngoài. dịch vụ cho nước ngoài.” Theo định nghĩa này, xuất khẩu đồng nghĩa với xuất khẩu, nghĩa là xuất khẩu là việc bán hàng hóa và dịch vụ ra bên ngoài lãnh thổ. Các nhà kinh tế học, xuất khẩu là giá trị của tất cả hàng hóa và dịch vụ sản xuất ra được mua bởi nước ngoài, nói cách khác, xuất khẩu được hiểu rộng hơn là không gian không giới hạn trong việc mua hàng hóa và dịch vụ của người nước ngoài.
Xuất khẩu nội địa là hình thức xuất khẩu trong đó người cư trú bán hàng hóa và dịch vụ cho người không cư trú trên lãnh thổ của quốc gia cư trú. Hình thức xuất khẩu tại chỗ giúp giảm thiểu rủi ro và chi phí trong quá trình vận chuyển hàng hóa và dịch vụ (Nguyễn Văn Lưu, 2013).
Trong du lịch quốc tế để thu ngoại tệ, nhiều hàng hóa và dịch vụ được du khách nước ngoài sử dụng trong chuyến đi. Về cơ bản, đây là hoạt động kinh doanh xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch vì hàng hóa và dịch vụ du lịch được bán mà không qua biên giới của một quốc gia.
Theo đó, Nguyễn Văn Lưu (2013) định nghĩa, xuất khẩu nội địa thông qua du lịch là quá trình bán hàng hóa, vật tư, dịch vụ cho khách du lịch quốc tế, thu ngoại tệ trực tiếp hoặc thu ngoại tệ quy đổi nội tệ, trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia mà du khách đến du lịch. .
Theo các khái niệm trên, có thể hiểu tất cả các sản phẩm được khách du lịch quốc tế mua hoặc tiêu dùng trên lãnh thổ của quốc gia mà khách du lịch đến đều là những sản phẩm được xuất khẩu tại địa phương thông qua hoạt động du lịch. Như vậy, hầu hết các sản phẩm du lịch và các sản phẩm liên quan đến du lịch đều có thể coi là sản phẩm xuất khẩu của địa phương thông qua du lịch.
2.2. Tầm quan trọng của xuất khẩu địa phương thông qua du lịch
Cũng giống như hoạt động xuất khẩu nói chung, xuất khẩu thông qua du lịch có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia thông qua việc thu các nguồn ngoại hối, mở rộng và đẩy mạnh quan hệ đối ngoại, phục vụ các dịch vụ ngoại hối, bảo tồn và phát huy các giá trị tự nhiên và văn hóa của đất nước.
Hoạt động xuất khẩu thông qua du lịch là động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng hiện đại thông qua thúc đẩy sản xuất các ngành dịch vụ, cụ thể là dịch vụ du lịch, ở các vùng, miền, địa phương có tiềm năng phát triển cao, từ đó tạo động lực để kéo các ngành khác cùng phát triển như vận tải, ngân hàng, bảo hiểm, thương mại, y tế, thông tin, văn hóa, v.v. giúp đa dạng hóa và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, tạo việc làm cho cộng đồng địa phương. Hoạt động du lịch sẽ thúc đẩy mở rộng đầu tư, sản xuất hàng hoá và dịch vụ xuất khẩu. Ngoài ra, XK địa phương thông qua du lịch còn tạo vốn để nhập khẩu hàng hóa/dịch vụ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước ngày càng đa dạng, phong phú, góp phần phát triển và nâng cao đời sống kinh tế, tinh thần của các tầng lớp nhân dân. Xuất khẩu nội địa thông qua du lịch là hình thức xuất khẩu có nhiều ưu điểm vượt trội như xuất khẩu được nhiều hàng hóa mà du khách có thể mua và sử dụng ngay tại địa phương mà không phải trải qua nhiều công đoạn phức tạp như hải quan, tuyển chọn, đóng gói, vận chuyển… Nó có thể tiết kiệm rất nhiều chi phí và giảm giá thành sản phẩm. Xuất khẩu địa phương thông qua du lịch cũng có thể xuất khẩu các sản phẩm tươi sống, khó bảo quản như hoa, trái cây, thực phẩm… nên hạn chế được rủi ro.
xuất khẩu du lịch là gì
3. Thực trạng xuất khẩu nội địa thông qua du lịch ở Việt Nam
3.1. Nguồn lực thu hút khách du lịch quốc tế
Được thiên nhiên ưu đãi, Việt Nam có nhiều tiềm năng du lịch phong phú, đa dạng với bờ biển dài, nhiều rừng, núi, hang động, nhiều công trình kiến trúc cổ và nhiều lễ hội đặc sắc. Mặc dù hoạt động còn nhiều khó khăn nhưng trong những năm gần đây, ngành du lịch Việt Nam cũng đã thu hút hàng triệu lượt khách du lịch trong và ngoài nước, đóng góp đáng kể cho nền kinh tế quốc dân. Tài nguyên du lịch tự nhiên
Việt Nam có bờ biển dài 3.260 km, với 125 bãi biển, hầu hết đều rất đẹp và thuận lợi cho du lịch (Nha Trang, Mũi Né, Mỹ Khê, Phú Quốc, Nhật Lệ, Láng Lãng). những bãi biển đẹp ở Việt Nam và được nhiều báo nước ngoài khen ngợi).
Việt Nam có 30 vườn quốc gia, 400 suối nước nóng, tổng số hang động đã được phát hiện gần 1000 (trong đó có nhiều hang động đẹp như Hương Tích, Bích Động, Phong Nha).
Việt Nam có hơn 3.500 hồ chứa với dung tích hơn 0,2 triệu m3, trong đó nhiều hồ đã vận hành tại các điểm du lịch quốc gia (hồ Ba Bể, hồ Núi Cốc). Suối nước nóng và nước khoáng thiên nhiên ở Việt Nam rất phong phú như suối khoáng Quang Hanh (Quảng Ninh), suối khoáng Kim Bôi (Hòa Bình), suối khoáng nóng Bang (Quảng Bình), suối khoáng Hội Vân (Bình Định), Dục Mỹ, suối khoáng Tháp Bà (Nha Trang), suối khoáng Vĩnh Hảo (Bình Thuận), suối nước nóng Bình Châu - Hồ Cốc (Bà Rịa - Vũng Tàu)... Những vùng nước khoáng nóng này đã trở thành điểm du lịch nghỉ dưỡng. Nghỉ ngơi, phục hồi sức khỏe được nhiều du khách ưa chuộng. Là một nước thuộc vùng nhiệt đới, nước ta có nhiều khu nghỉ dưỡng trên núi mang phong cách ôn đới giống như các thị trấn nhỏ ở châu Âu, đó là: Sa Pa, Tam Đảo, Bạch Mã, Bà Nà, Đà Lạt,... Các khu nghỉ dưỡng này thường ở độ cao ở độ cao hơn 1000m so với mực nước biển, thị trấn Sapa quyến rũ với những ngôi biệt thự cổ kính và những tòa nhà hiện đại.
Bên cạnh đó, Việt Nam còn có nhiều loài tràm và sân chim, nhiều khu rừng quốc gia nổi tiếng với bộ sưu tập động thực vật nhiệt đới phong phú như: Vườn quốc gia Cúc Phương Ninh Bình, Vườn quốc gia từ Vườn quốc gia Cát Bà đến Hải Phòng, Vườn quốc gia Côn Đảo Công viên đi Bà Rịa - Vũng Tàu. Đặc biệt, vùng tràm Tam Nông (Đồng Tháp), nơi sếu đầu đỏ sinh sống, đã trở thành trung tâm thông tin về sếu do Quỹ quốc tế bảo tồn chim tài trợ. Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng với những giá trị độc đáo về lịch sử hình thành trái đất, lịch sử địa chất, địa hình, địa mạo, cảnh quan đẹp, kỳ bí, đa dạng sinh học cũng như các giá trị văn hóa - lịch sử đặc sắc, đã được UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới năm 2003.
Di sản văn hóa là sản phẩm du lịch hấp dẫn, thu hút ngày càng nhiều du khách trong nước và quốc tế. Bên cạnh các yếu tố về cơ sở hạ tầng, vật chất - kỹ thuật, chuyên ngành và nguồn nhân lực, di sản văn hóa được coi là cơ sở, trụ cột quan trọng cho sự phát triển kinh tế du lịch và là công cụ hỗ trợ du lịch tích cực giúp định vị hình ảnh, xây dựng thương hiệu du lịch Ở Việt Nam.
Việt Nam là một quốc gia có lịch sử lâu đời với 54 dân tộc anh em đã để lại một kho tàng di sản văn hóa phong phú, đa dạng và độc đáo. Tính đến đầu năm 2018, Việt Nam có tất cả 27 di sản thế giới được UNESCO công nhận, trong đó có 24 di sản văn hóa vật thể và phi vật thể; 3 di sản thiên nhiên (Phan Huy Xu, Võ Văn Thành, 2018). Các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể phải kể đến, bao gồm: 5 di sản văn hóa là Quần thể di tích Cố đô Huế, Đô thị cổ Hội An, Khu đền tháp Mỹ Sơn, Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội, Thành nhà Hồ; 9 di sản văn hóa phi vật thể là Nhã nhạc Cung đình Huế, Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên, Ca Trù, Dân ca Quan họ, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, Lễ hội Gióng, Hát Xoan, Nghệ thuật Đờn ca Tài tử Nam Bộ và Dân ca Ví - Giặm Nghệ Tĩnh; và 6 di sản tư liệu thế giới là Bia đá các khoa thi tiến sĩ Văn Miếu Quốc Tử Giám, Mộc bản Triều Nguyễn, Châu bản Triều Nguyễn, Mộc bản Kinh Phật Thiền phái Trúc Lâm chùa Vĩnh Nghiêm, Thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế và Mộc bản Trường học Phúc Giang. Ba di sản thiên nhiên, bao gồm: Vịnh Hạ Long, Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng và Khu Quần thể danh thắng Tràng An. Đặc biệt, Việt Nam có Cao nguyên đá Đồng Văn được UNESCO công nhận là Công viên Địa chất toàn cầu.
Hiện nay, trên cả nước có 117 bảo tàng, trong đó có 6 bảo tàng được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trực tiếp quản lý; 32 bảo tàng được các Bộ, ngành và đoàn thể khác quản lý và 79 bảo tàng được quản lý bởi các cấp chính quyền địa phương (Dẫn theo Vũ Thế Bình, 2016).
Cùng với đó là hàng vạn di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh được công nhận di sản. Chỉ tính riêng di sản văn hóa vật thể, ước tính có hơn 3.000 di sản cấp quốc gia và khoảng 7.500 di sản cấp tỉnh và nhiều công trình di tích vẫn đang được thống kê; hệ thống các lễ hội, làng nghề truyền thống; văn hóa ẩm thực của các vùng miền, của các dân tộc; các di sản văn hóa văn nghệ dân gian. Với lịch sử hơn 4000 năm, Việt Nam còn lưu giữ nhiều di tích kiến trúc có giá trị, trong đó có nhiều di tích cổ độc đáo còn nguyên dáng vẻ như chùa Một Cột, chùa Kim Liên, chùa Tây Phương, nhà ở xã Tây Đằng, Chu Quyến (Hà Nội), Tháp Phổ Minh (Nam Định), Chùa Keo (Thái Bình), Chùa Bút Tháp, Đình Bảng (Bắc Ninh), Tháp Chàm (các tỉnh ven biển Việt Trung) và các công trình kiến trúc cung đình Huế.
Nền văn hóa đặc sắc của người Việt Nam là một trong những yếu tố thu hút khách du lịch quốc tế. Thực tế, nhiều du khách quốc tế đến Việt Nam thừa nhận ngoài lý do “hiếu khách, yêu người”, nhiều du khách đến Việt Nam còn vì tò mò một dân tộc nhỏ bé có thể chinh phục thế giới, đánh bại nhiều siêu cường trên thế giới, một kỳ tích mà không phải dân tộc nào cũng làm được. Đây chính là truyền thống yêu nước - đã trở thành giá trị bất biến của mỗi người Việt Nam, giá trị cốt lõi của dân tộc Việt Nam. Những giá trị tiêu biểu nhất của dân tộc Việt Nam được đúc kết trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 12 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (CPC) khóa XII: “Lòng yêu nước nồng nàn, ý chí quật cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, nghĩa của sự gắn kết cộng đồng và cá nhân - gia đình - làng xóm - tổ quốc, bao dung, trọng nghĩa tình, cần cù sáng tạo trong công việc, tế nhị trong ứng xử, giản dị trong lối sống” (Phan Huy Xử, Võ Văn Thành, 2018).
3.2. Thực trạng thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam
Việt Nam là một quốc gia giàu tài nguyên du lịch cả về tự nhiên và văn hóa, đặc biệt là các di sản thế giới và con người. Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam với nhiều mục đích khác nhau như thưởng ngoạn cảnh quan thiên nhiên, khám phá các giá trị văn hóa vật chất và tinh thần của các dân tộc anh em cư trú trên lãnh thổ Việt Nam. được tạo ra trong quá trình làm việc để tạo ra những hệ giá trị mới, độc đáo mà ở quốc gia của họ không có. Trong những năm gần đây, Việt Nam đã thu hút hàng triệu lượt khách du lịch quốc tế đến tham quan và nghỉ dưỡng.
Sự tăng trưởng nhanh về lượng khách quốc tế trong những năm gần đây mặc dù không ổn định nhưng nhìn chung tốc độ tăng trưởng bình quân trong giai đoạn này cũng đạt 16,94% là một tín hiệu tích cực cho ngành du lịch Việt Nam. Đặc biệt, năm 2019 đánh dấu sự thành công của du lịch Việt Nam với lượng khách quốc tế đạt trên 18 triệu lượt, cao nhất từ trước đến nay. Bên cạnh việc tăng cường quảng bá, tuyên truyền, chất lượng du lịch đang được cải thiện tích cực để thu hút du khách quốc tế. Việt Nam tiếp tục giữ danh hiệu “Điểm đến hàng đầu châu Á” năm thứ hai liên tiếp do Giải thưởng Du lịch Thế giới (WTA) 2019 (Cổng thông tin điện tử Chính phủ, 2020) bình chọn.
Trong giai đoạn 2010 - 2019, tốc độ tăng trưởng bình quân khách quốc tế đến Việt Nam bằng đường hàng không là 15,67%, đường bộ tăng 16,96% và đường biển giảm gần 2,58%. Như vậy, phần lớn khách quốc tế đến nước ta chủ yếu bằng đường hàng không và tăng mạnh trong những năm gần đây, thay thế dần đường bộ và đường biển. Đây là một trong những cơ hội thuận lợi cho sự phát triển của ngành hàng không Việt Nam. (Cổng thông tin điện tử Chính phủ, 2020).
3.3. Về tổng thu nhập của khách du lịch quốc tế
Trong giai đoạn 2010 - 2019, tổng thu du lịch có sự tăng trưởng rõ nét: Nếu như năm 2010 doanh thu du lịch đạt 3,5 tỷ USD thì đến năm 2019, sau 10 năm đạt hơn 11,8 tỷ USD. lần. Tốc độ tăng trưởng bình quân thời kỳ này cũng đạt 18,02%.
Nhìn chung, giai đoạn 2010 - 2019, mỗi năm ngành du lịch Việt Nam thu hút hàng triệu lượt khách du lịch quốc tế đến tham quan, nghỉ dưỡng. Lượng khách quốc tế tăng đồng nghĩa với việc hoạt động kinh doanh xuất khẩu thông qua du lịch của Việt Nam đã tăng lên đáng kể trong những năm gần đây. Điều này chứng tỏ ngành du lịch Việt Nam đang trên đà phát triển và quảng bá hình ảnh của mình trên trường quốc tế.
4. Một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển xuất khẩu địa phương thông qua du lịch ở Việt Nam
Với lợi thế về tiềm năng, hiện nay Việt Nam đang tập trung “phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn” như Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị đã khẳng định: “Việc phát triển ngành du lịch đã giúp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và xuất khẩu của địa phương; bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, tài nguyên thiên nhiên; tạo nhiều việc làm; nâng cao đời sống nhân dân; thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế, quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam”. Tuy nhiên, hiện nay, ngành Du lịch Việt phát triển chưa xứng tầm với tiềm năng, lợi thế của mình do nhiều nguyên nhân. Dưới góc độ thu hút khách du lịch quốc tế, nâng cao hiệu quả xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch, nhóm tác giả đề xuất một số giải pháp như sau:
Thứ nhất, ở tầm vĩ mô, các cấp quản lý nhà nước về du lịch cần có những giải pháp vừa mang tính cụ thể vừa mang tính chiến lược lâu dài như chiến lược xây dựng và phát triển thương hiệu, hình ảnh du lịch; hướng đến mục tiêu phát triển du lịch bền vững; xây dựng chiến lược tổng thể phát triển khu vực du lịch, đẩy mạnh hợp tác song phương và đa phương tạo sự liên kết, đồng bộ của tất cả các bên liên quan; mở rộng sự tham gia và phối hợp của các thành phần kinh tế vào lĩnh vực du lịch để phát triển du lịch bền vững và hiệu quả. Bên cạnh đó, cần có sự cải thiện cơ sở hạ tầng du lịch, hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật nhằm đáp ứng những nhu cầu tiêu dùng cao của khách du lịch quốc tế; cần áp dụng, triển khai sớm về thủ tục xuất nhập cảnh đơn giản cho du khách mà Chính phủ đang làm thí điểm và tạo mọi điều kiện thuận lợi về các hoạt động, sinh hoạt cho khách du lịch khi đến với Việt Nam.
Thứ hai, ở tầm vi mô, đối với các doanh nghiệp du lịch và doanh nghiệp liên quan cần đổi mới tư duy về kinh doanh du lịch trong thời kỳ hội nhập. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra, cần tích cực áp dụng các thành tựu khoa học trong việc quản lý, kinh doanh du lịch; cần xây dựng và thực hiện các chiến lược, kế hoạch kinh doanh, mở rộng quy mô, chủ động tham gia vào các hoạt động trong khuôn khổ phát triển du lịch vùng, các hiệp hội du lịch trên quan điểm, mục tiêu, định hướng các chiến lược chung phát triển du lịch của quốc gia. Thứ ba, được thiên nhiên ưu đãi, Việt Nam là một trong số ít quốc gia có nhiều tiềm năng và lợi thế về tài nguyên du lịch tự nhiên. Nước ta có nhiều tài nguyên về địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ động - thực vật đa dạng, phong phú và rất đặc thù để thu hút khách du lịch quốc tế. Tuy nhiên, cũng cần nhận thấy rằng du khách quốc tế đến Việt Nam không phải để chiêm ngưỡng những công trình kiến trúc hiện đại mà họ đến đây để tận hưởng những giá trị mà thiên nhiên ban tặng. Vì vậy, để phát triển du lịch một cách bền vững, trước hết cần đạt được sự đồng bộ trong quy hoạch tổng thể du lịch sinh thái, du lịch thiên nhiên, khai thác du lịch thiên nhiên, có tính đến việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và bảo tồn thiên nhiên. môi trường sạch sẽ. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nhân dân về ý thức giữ gìn và bảo vệ môi trường tự nhiên, xây dựng hệ thống pháp luật và xây dựng nội quy bảo vệ môi trường. Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch cần được thiết kế để hòa quyện một cách khéo léo, hài hòa vào cảnh quan thiên nhiên, tùy màu sắc, uốn mình theo tự nhiên, hạn chế tối đa việc cải tạo cưỡng bức, tô vẽ địa hình, phá vỡ cảnh quan vốn có. Chỉ có như vậy chúng ta mới tạo ra sự khác biệt và mang đến cho du khách cảm giác gần gũi với thiên nhiên.
Thứ tư, du lịch Việt Nam với nhiều lợi thế về tài nguyên văn hóa, đặc biệt là các di sản văn hóa đã được UNESCO công nhận, tạo ra những sản phẩm du lịch khác biệt, đẳng cấp quốc tế, thu hút du khách quốc tế. Trong đó, nhiều di sản văn hóa không chỉ của dân tộc Việt Nam mà còn của nhân loại nên mọi người đều có quyền tiếp cận, thụ hưởng và có trách nhiệm với di sản đó. Việc phát huy giá trị, giới thiệu, quảng bá các di sản văn hóa thế giới ở Việt Nam là rất cần thiết để nhân dân thế giới biết đến, quan tâm và hiểu giá trị của chúng. Bên cạnh việc phát huy giá trị, công tác bảo tồn DSVH có vai trò quan trọng, cần thay đổi căn bản nhận thức và quản lý nhằm bảo tồn, gìn giữ, làm đẹp và nâng cao giá trị DSVH một cách bền vững.
Thứ năm, một trong những yếu tố quan trọng thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam là trải nghiệm về văn hóa và con người Việt Nam, trong đó có những giá trị văn hóa tương đồng và khác biệt. Vì vậy, cần xây dựng các chương trình du lịch ít nhiều tích hợp các giá trị văn hóa truyền thống và nét đặc trưng của văn hóa với các nền văn hóa khác.
Nói đến con người trong du lịch, việc đầu tiên phải làm là nâng cao tính chuyên nghiệp của nguồn nhân lực du lịch. Ngoài ra, cần quan tâm giáo dục cộng đồng làm du lịch địa phương về cách ứng xử với du khách: tôn trọng, văn minh, lịch sự… đồng thời giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam. Cuối cùng, sản phẩm du lịch có tính tích hợp cao, được cung cấp bởi nhiều bên liên quan như khách du lịch, tài nguyên du lịch, nhà cung cấp dịch vụ du lịch, cộng đồng địa phương và quản lý nhà nước. Vì vậy, để thu hút khách du lịch quốc tế, cần đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm bằng cách thay thế những sản phẩm cũ, đơn điệu bằng những sản phẩm mới, độc đáo, khác biệt, vừa mang tính dân tộc, vừa phù hợp với nhu cầu của khách du lịch. , đặc biệt là du khách quốc tế. Các sản phẩm du lịch đưa ra phải đạt chuẩn mực, tiêu chuẩn chất lượng toàn cầu và để làm được điều này cần thực hiện đồng bộ, chuyên nghiệp và có tính cạnh tranh cao.
Nội dung bài viết:
Bình luận