
vi phạm bản quyền bóng đá
1. Xử phạt vi phạm bản quyền trong lĩnh vực truyền hình trực tiếp bóng đá
Vấn đề bản quyền và mua bản quyền phát sinh từ các quy định về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của cá nhân, tổ chức theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ 2010. Quyền của tác giả trong lĩnh vực truyền hình có thể hiểu là quyền tác giả hoặc một quyền liên quan đến tác giả. Theo đó, Điều 2 và Điều 3 của luật này quy định: “(2) Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. » ; “(3). Quyền lân cận đối với quyền tác giả (sau đây gọi là quyền lân cận) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình.
So với các quy định trên, vấn đề mua bán bản quyền World Cup 2022 được cho là phù hợp với các quy định về quyền tác giả và các quyền lân cận của quyền tác giả. Các trận đấu trực tiếp và video của World Cup 2022 thuộc về FIFA – Liên đoàn bóng đá thế giới. FIFA sau đó đã chuyển quyền bán bản ghi các trận đấu World Cup cho các nhà phân phối. Vì vậy, để phát sóng các trận đấu của World Cup 2022, một đơn vị truyền hình tại Việt Nam phải mua bản quyền phát sóng các trận đấu từ các tổ chức phân phối đã được FIFA chuyển nhượng. Việc phát sóng mà không mua bản quyền là vi phạm pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế về quyền sở hữu trí tuệ.
- Xử phạt hành chính do vi phạm quyền sở hữu trí tuệ
Phổ biến không có bản quyền có thể bị áp dụng biện pháp hành chính. Cụ thể, Điều 15 Khoản 1 Nghị định 131/2015/NĐ-CP quy định xử phạt hành vi xâm phạm quyền phân phối tác phẩm như sau: Tác phẩm không được phép của chủ sở hữu quyền là tác giả”.
Mức phạt này được áp dụng đối với cá nhân, trường hợp tổ chức có hành vi xâm phạm quyền phân phối tác phẩm thì mức phạt sẽ cao gấp đôi đối với cá nhân. Ngoài ra, để khắc phục tạm thời hậu quả, cá nhân, tổ chức vi phạm còn phải xóa bản sao tác phẩm vi phạm dưới hình thức điện tử, trên mạng Internet và môi trường kỹ thuật số hoặc buộc tiêu hủy tang vật vi phạm đối với hành vi nêu trên. .
- Xử phạt nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm
Ngoài việc bị xử phạt hành chính, người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với quyền tác giả, tác phẩm còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 212 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 như sau: Người vi phạm sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự.
Như vậy, Điều 225 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:
“Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan:
- Người nào không được phép của chủ thể quyền tác giả, chủ thể quyền lân cận mà cố ý thực hiện một trong các hành vi sau đây xâm phạm quyền tác giả, quyền lân cận đang được bảo hộ tại Việt Nam, thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho Chủ sở hữu bản quyền hoặc liên quan ngay từ 100.000.000 VND đến dưới 500.000.000 VND hoặc nếu hàng hóa vi phạm có giá trị từ 100.000.000 VND và dưới 500.000.000 VND, sẽ phải chịu mức phạt 50.000.000 VND đến 03 năm:
a)Sao chép tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình;
b)Phân phối đến công chúng bản sao tác phẩm, bản sao bản ghi âm, bản sao bản ghi hình.
- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a)được tổ chức ;
(b)Phạm tội hai lần trở lên;
c)Thu lợi bất chính 300.000.000 đồng trở lên;
d)Gây thiệt hại cho chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan 500.000.000 đồng trở lên;
đ)Hàng hóa vi phạm trị giá 500.000.000 đồng trở lên.
- Người vi phạm còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. 4. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:
a)Pháp nhân thương mại thực hiện hành vi quy định tại khoản 1 Điều này đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng;
b)Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 điều này, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động từ 06 tháng đến 02 năm; »
c)Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực, cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.
- Quản lý các khiếu kiện dân sự
Khi bị xử lý hành chính hoặc hình sự, người phạm tội còn bị áp dụng thêm các biện pháp dân sự theo quy định tại Điều 225 như sau:
“Tòa án áp dụng các biện pháp dân sự sau đây để xử lý tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ: 1. Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm;
- Buộc xin lỗi, cải chính công khai;
- Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự;
- Buộc bồi thường thiệt hại;
- Buộc tiêu hủy hoặc buộc phân phối, đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hóa, nguyên liệu, vật liệu, phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ với điều kiện việc này không ảnh hưởng đến khả năng của chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ để khai thác quyền.
2. Người xem World Cup trên các website không bản quyền có bị xử lý?
Số lượng website không có bản quyền không chỉ phát sóng trái phép World Cup mà còn phát sóng nhiều giải đấu khác, gây hại cho các doanh nghiệp kinh doanh lĩnh vực này mà còn ảnh hưởng đến người xem bởi các trang web lậu tại Việt Nam thường lồng ghép quảng cáo hàng hóa, dịch vụ hoặc nội dung vi phạm pháp luật có bản chất tình dục, mại dâm, cờ bạc, v.v. Có một thực tế là “có cung sẽ có cầu”, nếu khán giả muốn xem các video vi phạm bản quyền thì chắc chắn các trang vi phạm bản quyền sẽ mọc lên như nấm. Điều này đặt ra câu hỏi liệu những người xem nội dung vi phạm bản quyền có vi phạm pháp luật Việt Nam hay không?
So với quy định của Luật Sở hữu trí tuệ 2005, không có quy định nào xử phạt người truy cập trang web không có bản quyền. Bởi vì, thực sự, rất khó để kiểm soát số lượng người lướt Net truy cập vào các trang web này. Tuy nhiên, luật pháp quốc tế cũng như luật pháp Việt Nam yêu cầu các cá nhân, tổ chức phải tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ của các cá nhân, tổ chức khác.
Để bảo vệ trước các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nêu trên, các cá nhân, tổ chức có quyền thực hiện các biện pháp được pháp luật cho phép để bảo vệ và hợp tác bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình. quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân khác theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Nội dung bài viết:
Bình luận