ví dụ vùng đặc quyền kinh tế

1.Vùng đặc quyền kinh tế

Trong luật biển quốc tế, vùng đặc quyền kinh tế (tiếng Anh: Exclusive Economic Zone - ZEE; tiếng Pháp: zone économique Exclusive - ZEE) là vùng biển kéo dài từ các quốc gia ven biển hoặc các quốc gia quần đảo, nằm bên ngoài và liền kề cho Tổng cục Hải quân. Nó được đặt dưới chế độ pháp lý riêng  quy định tại Phần V - Vùng đặc quyền kinh tế của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, trong đó các quyền và tài phán của các đảo của quốc gia ven biển (hoặc quần đảo), các các quyền và tự do của các Quốc gia khác sẽ được điều chỉnh bởi các quy định thích hợp của Công ước này. Vùng biển này  rộng 200 hải lý (370,4 km) tính từ đường cơ sở,  trừ trường hợp các điểm được tạo ra gần với các quốc gia khác. Trong vùng đặc quyền kinh tế, quốc gia có độc quyền khai thác và sử dụng  tài nguyên biển.  

 

 Các vùng biển theo luật pháp quốc tế 

 Khái niệm trao cho Quốc gia  vùng đặc quyền về kinh tế  cho phép kiểm soát tốt hơn các vấn đề  biển (vượt quá giới hạn lãnh thổ mà Quốc gia là chủ sở hữu hoàn toàn) này đã được đa số quốc gia thông qua và chấp nhận vào cuối thế kỷ 20. và được gắn với sự công nhận quốc tế theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 lần thứ ba. * Điều 55 Phần V Công ước Liên hợp quốc về Luật biển quy định: 

 

2. Chế độ pháp lý cụ thể của Vùng đặc quyền kinh tế 

 

ví dụ vùng đặc quyền kinh tế

ví dụ vùng đặc quyền kinh tế

 

 Vùng đặc quyền kinh tế là  khu vực bên ngoài và liền kề với lãnh hải, chịu sự điều chỉnh của chế độ pháp lý cụ thể quy định tại Phần này, theo đó các quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển cũng như các quyền và tự do của các quốc gia khác được  quy định bởi cơ quan có thẩm quyền liên quan. pháp luật. quy định của Công ước này.  

 

 Chế độ pháp lý đặc biệt đối với vùng đặc quyền kinh tế 

 

 Vùng đặc quyền kinh tế là khu vực bên ngoài và liền kề với lãnh hải, chịu chế độ pháp lý đặc biệt quy định trong phần này, theo đó các quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển cũng như các quyền và tự do của quốc gia khác được điều chỉnh bởi các quy định của Công ước này.  

 Quản lý nghề cá là phần quan trọng nhất của cuộc kiểm toán này.  

 Các cuộc tranh luận về phạm vi chính xác của các vùng đặc quyền kinh tế là nguồn chính của tranh chấp hàng hải giữa các quốc gia. Ví dụ nổi tiếng nhất ở châu Âu có thể là Chiến tranh cá tuyết giữa Iceland và Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland vào năm 1893.

 3.Lịch sử 

 Việc hình thành và hình thành vùng này  bắt nguồn từ việc Tổng thống Mỹ Truman ngày 28/9/1945 ra tuyên bố về việc chiếm đóng ven biển ở một số vùng biển nhất định, trong đó, Mỹ đề xuất thành lập một vùng đảm bảo sự tồn tại của vùng biển này. phần quy luật nhất của vùng biển cả tiếp giáp với bờ biển Hoa Kỳ, nơi các hoạt động đánh bắt cá đã và sẽ phát triển trong tương lai với quy mô lớn. dặm hải lý. 

 Sau đó, các nước Mỹ Latinh như Chile, Peru, Ecuador đã mở rộng phạm vi lãnh đạo hải quân của họ lên 200 hải lý dưới những cái tên  như vùng biển di sản, lãnh đạo hải quân, v.v. và các quyền tự do khác trên biển, tình trạng này đã gây ra sự sợ hãi và phản kháng từ các quốc gia có nghề hàng hải phát triển. Năm 1971, Kenya và các nước Á-Phi sau đó  đề xuất một nghị quyết vô hiệu hóa cả hai quan điểm dựa trên khái niệm vùng đặc quyền kinh tế, trong đó các quốc gia ven biển có  quyền tài phán đặc biệt trong thời gian kiểm soát; quy định; khai thác, bảo vệ  tài nguyên sinh vật và phi sinh vật của vùng để phòng, chống  ô nhiễm, đồng thời bảo đảm các quyền tự do hàng hải, tự do trong vịnh, tự do đặt  cáp hoặc dẫn dầu dưới biển. 

 Khái niệm này  nhanh chóng được chấp nhận mà không bị phản đối  và  có giá trị thông thường trước khi được công nhận trong Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982.  

 4.Chế độ pháp lý 

 Vùng đặc quyền kinh tế là  vùng  đặc quyền hàng hải trong đó  các quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển cân bằng với các quyền và  tự do của các quốc gia khác. 

  Theo quy định của Công ước Luật biển 1982, quốc gia ven biển có các quyền sau đây: 

 

 * Các quyền thuộc về chủ thể có quyền  thăm dò, khai thác, bảo tồn và quản lý  tài nguyên thiên nhiên của vùng nước phía trên đáy biển cũng như vùng biển và lòng đất dưới đáy biển. Các quyền này bao gồm: Hoạt động thăm dò và khai thác vì mục đích kinh tế cũng như sản xuất năng lượng từ nước,  hải lưu và gió.  * Thẩm quyền đối với: 

 

 Việc lắp đặt, sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình nghiên cứu khoa học trên biển.  Các quyền và nghĩa vụ khác phát sinh từ các quy định của Công ước.  Điều này có nghĩa là quốc gia ven biển có toàn quyền  đánh giá tiềm năng của các nguồn tài nguyên này và áp dụng các biện pháp thích hợp để bảo tồn và quản lý các nguồn tài nguyên này. Các tổ chức quốc tế có thẩm quyền chỉ có thể tham gia vào công việc duy trì các nguồn tài nguyên này ở một "mức độ phù hợp". Tuy nhiên, nếu tổng  lượng khai thác tài nguyên sinh vật vượt quá khả năng khai thác của quốc gia  thì  có nghĩa vụ "tạo điều kiện  khai thác tối ưu  nguồn tài nguyên sinh vật mà quốc gia này sở hữu". Vùng đặc quyền kinh tế




Nội dung bài viết:

    Hãy để lại thông tin để được tư vấn

    comment-blank-solid Bình luận

    084.696.7979 19003330 Báo giá Chat Zalo