
ví dụ về tội đua xe trái phép
1. Dấu hiệu pháp lý của tội tổ chức đua trái phép
1.1. Đối tượng của tội phạm
Khách thể của tội phạm là trật tự an toàn giao thông và trật tự an toàn công cộng.
Khác với tội tổ chức đua xe trái phép, tội này không nhắm vào các tay đua mà phương tiện dùng để đua là ô tô, mô tô hoặc các loại xe có động cơ khác.
1.2. Mặt khách quan của tội phạm
Hành vi khách quan của tội phạm này là hành vi bỏ chạy. Hành vi đua xe bị coi là hành vi phạm tội khi hành vi đó không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép; nếu các cuộc đua được cơ quan công quyền có thẩm quyền cho phép thì không bị coi là phạm tội.
Các tay đua trái phép có thể thực hiện bất kỳ điều nào sau đây: chuẩn bị phương tiện và các điều kiện khác cần thiết cho cuộc đua; tại nơi gặp gỡ của các cuộc đua; Điều khiển xe tham gia cuộc đua. Ở đây, chuẩn bị phương tiện có thể bao gồm chuẩn bị xe máy, ô tô và các phương tiện khác có động cơ. Hành động chuẩn bị có thể là hành vi mua ô tô, cho mượn ô tô, thuê ô tô,... để chạy.
Trong các hành vi này, điều khiển xe ô tô tham gia đua xe là hành vi phạm tội trọng tâm và quan trọng nhất.
Tội phạm được thực hiện kể từ thời điểm người phạm tội bắt đầu điều khiển xe tham gia cuộc đua. Nếu người vi phạm đã chuẩn bị phương tiện và các điều kiện cần thiết đang trên đường đến điểm tập trung đua xe để bị phát hiện, bắt giữ thì không cấu thành tội đua xe trái phép mà tùy trường hợp sẽ bị xử lý vi phạm. hoặc trên đường đi đến nơi tập trung người vi phạm mà còn lạng (vọt) xuống đường thì có thể bị truy cứu về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ.
Nếu trên đường đến địa điểm đua, người phạm tội ngang nhiên thực hiện các cuộc đua với quy mô nhỏ khác trên đường đến địa điểm tập kết thì hành vi đó bị coi là chạy trái luật nếu có đủ các điều kiện sau đây. Nếu có dấu hiệu khác vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đua xe trái phép.
Trong trường hợp một người không có ý định tham gia cuộc đua nhưng vô tình bắt gặp và tham gia cuộc đua theo đường đua vẫn bị coi là phạm tội.
Các cuộc đua có thể được tổ chức trước nhưng cũng có thể diễn ra đột ngột khi người điều khiển ô tô, xe máy tham gia giao thông. Ví dụ: A và B là bạn, cùng nhau đi 2 xe máy về quê, trên đường A rủ B đua xe xem ai về nhà trước thì đây cũng bị coi là tội đua xe. Riêng người điều khiển xe tham gia đua mới là người thực hiện hành vi đua, còn người ngồi sau xe đua chỉ là người cổ vũ thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đua xe trái phép mà tùy trường hợp có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội gây rối trật tự công cộng.
Hậu quả là dấu hiệu đặc trưng của tội phạm này. Nếu hậu quả không xảy ra, tức là chưa gây thiệt hại cho sức khỏe, tài sản của người khác thì hành vi đua xe trái phép không cấu thành tội đua xe trái phép. Hậu quả của tội phạm được quy định cụ thể như sau tại khoản 1 Điều 266 BLHS:
- a) ây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 1 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
b)Gây thiệt hại về vật chất từ 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng;
c)Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tổ chức đua xe trái phép, đua xe trái phép hoặc đã bị kết án về một trong các tội này.
Trường hợp phạm tội lần đầu hoặc hậu quả gây thiệt hại không đáng kể về người và tài sản thì người phạm tội tuy không phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng vẫn phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điều 34 nghị định 100/2019 . /NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt:
“Điều 34. Hình phạt cho các cuộc đua trái phép, khuyến khích cho các cuộc đua trái phép
- Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a)Tụ tập cổ vũ, lôi kéo điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định, lạng lách, đánh võng, rượt đuổi, bỏ chạy trái luật;
b)Đua xe đạp, đua mô tô, xích lô, đua thú kéo, dắt thú đi trên đường bộ.
- Phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với người điều khiển mô tô, xe gắn máy, xe máy điện trái phép.
- Phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với người đua xe trái phép.
- Ngoài hình thức phạt tiền, người điều khiển phương tiện vi phạm còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung sau đây:
a)Thực hiện hành vi quy định tại điểm b khoản 1 điều này thì bị tịch thu phương tiện (trừ súc vật kéo, súc vật cưỡi);
b)Thực hiện hành vi quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 03 tháng đến 05 tháng và bị tịch thu phương tiện.
1.3. Chủ thể của tội phạm
Khách thể của tội phạm này không phải là chủ thể đặc biệt, chỉ cần người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ độ tuổi theo quy định của Bộ luật hình sự thì có thể trở thành khách thể của tội phạm này.
Tác giả của tội phạm phải là người từ 14 tuổi trở lên và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.
BLHS không quy định năng lực trách nhiệm hình sự là gì nhưng có quy định loại trừ trách nhiệm hình sự của người phạm tội trong tình trạng mất năng lực trách nhiệm hình sự tại Điều 21 BLHS. Như vậy, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy, người chịu trách nhiệm hình sự phải là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội khi còn khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình.
Tuổi chịu trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 12 BLHS. Người từ đủ 16 tuổi sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi loại tội phạm. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một số điều 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Chương XXI Bộ luật Hình sự. Bộ luật Hình sự. Tội đua xe trái phép theo quy định tại Khoản 1 Điều 266 thuộc loại tội nghiêm trọng, do đó, chủ thể của tội phạm phải từ đủ 16 tuổi trở lên. Tội phạm quy định tại Khoản 2,3,4, Điều này thuộc loại tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng, vì thế, chủ thể của tội phạm là người từ đủ 14 tuổi trở lên.
1.4. Mặt chủ quan của tội phạm
Người phạm tội đua xe trái phép thực hiện hành vi phạm tội của mình là do cố ý, tức là người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là hành vi đua xe trái phép, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra hoặc thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.
2. Hình phạt đối với người phạm tội đua xe trái phép
Điều 266 Bộ luật Hình sự quy định 05 Khung hình phạt đối cá nhân phạm tội như sau:
- Người nào đua trái phép xe ô tô, xe máy hoặc các loại xe khác có gắn động cơ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc Điều 265 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a)Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
b)Gây thiệt hại về tài sản từ 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng.
- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a)Làm chết người;
b)Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
c)Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
d)Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
đ)Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;
e)Tham gia cá cược;
g)Chống lại người có trách nhiệm bảo đảm trật tự, an toàn giao thông hoặc người có trách nhiệm giải tán cuộc đua xe trái phép;
h)Tại nơi tập trung đông dân cư;
i)Tháo dỡ thiết bị an toàn khỏi phương tiện đua;
k)Tái phạm nguy hiểm.
- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a)Làm chết 02 người;
b)Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;
c)Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.
- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:
a)Làm chết 03 người trở lên;
b)Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;
c)Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.
- Khung hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
Nội dung bài viết:
Bình luận