Vi bằng và đồng sở hữu
Theo Điều 502 Bộ luật dân sự 2015 quy định về hình thức và phương thức giao kết hợp đồng về quyền sử dụng đất như sau:
“Điều 502. Hình thức, thủ tục thực hiện hợp đồng về quyền sử dụng đất
- Hợp đồng về quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản và có hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật này, Luật đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan. 2. Việc thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải tuân theo trình tự, thủ tục theo quy định của Luật Đất đai và các quy định khác của pháp luật có liên quan.”
Theo điểm a khoản 3 điều 167 Luật đất đai 2013 quy định về quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, mang vốn bằng quyền sử dụng đất thì hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng, chứng thực, trừ trường hợp bất động sản. Ngoài ra, Khoản 1 Điều 122 Luật Nhà ở 2014 cũng nêu rõ, trong trường hợp mua bán, tặng cho, đổi, góp vốn, thế chấp nhà ở, hợp đồng chuyển nhượng mua bán nhà ở thương mại thì phải công chứng, chứng thực. được thực hiện. .
Do đó, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa hai cá nhân theo quy định của pháp luật về đất đai phải được công chứng hoặc chứng thực.

Ngoài ra, Điều 37 Nghị định 08/2020/NĐ-CP quy định các trường hợp sau đây không được cấp bằng:
- Các trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 4 Nghị định này.
- Vi phạm quy định về an ninh, quốc phòng bao gồm: vi phạm mục tiêu về an ninh, quốc phòng; tiết lộ bí mật nhà nước, phát tán tin, tài liệu, vật thuộc bí mật nhà nước; vi phạm các quy định về ra, vào khu yên tĩnh, khu bảo vệ, vành đai an toàn công trình quốc phòng, khu quân sự; vi phạm các quy định về bảo vệ bí mật, bảo vệ công trình an ninh, quốc phòng, khu vực quân sự.
- Xâm phạm đời tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình quy định tại Điều 38 Bộ luật Dân sự; trái đạo đức xã hội.
- Xác nhận nội dung và ký kết hợp đồng, giao dịch theo quy định của pháp luật trong khuôn khổ hoạt động công chứng, chứng thực; xác nhận tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt; xác nhận chữ ký, bản sao trung thực với bản gốc.
- Ghi nhận sự việc, chứng từ chuyển nhượng quyền sử dụng, quyền sở hữu đất đai, tài sản mà không có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng, quyền sở hữu theo quy định của pháp luật.
- Bản đăng ký sự kiện, hành vi thực hiện giao dịch trái pháp luật của người khởi kiện.
- Ghi lại sự việc, hành vi của cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong cơ quan, đơn vị Quân đội nhân dân và sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ trong cơ quan, đơn vị Công an nhân dân thi hành công vụ.
- Biên bản sự kiện, hành vi mà Thừa phát lại không trực tiếp chứng kiến.
- Các trường hợp khác do pháp luật quy định.
Như vậy, việc mua bán nhà gồm số 0 có giá trị thay thế cho việc công chứng, chứng thực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Tuy không có quyền yêu cầu nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng trên giấy chứng nhận có thể ghi nhận hành vi giao nhận tiền, giao nhận giấy tờ nhà đất, nhà đất để làm căn cứ cho các giao dịch pháp lý tiếp theo. hoặc làm cơ sở cho việc giải quyết tranh chấp sau này.
Nội dung bài viết:
Bình luận