1. Sự hình thành nhà nước thời buổi đầu ở Hy Lạp:
Sự tan rã của chế độ thị tộc dẫn đến sự ra đời của Nhà nước là một quy luật tất yếu của lịch sử. Nhà nước ra đời do nhiêu nguyên nhân khách quan và yếu tô' chủ quan khác nhau. Những quan điểm chính trị pháp lý phủ nhận một động lực thúc đẩy sự ra đời của Nhà nước vì “mọi cuộc chiến tranh trước khi nổ ra trên thực tế, nó đã bùng lên ở trong đầu con người”.
Cùng với sự tan rã các quan hệ thị tộc - bộ lạc, dã chín muồi mâm mông quyền lực chính trị pháp lý trong diêu kiện sự phân hóa mạnh mẽ của các công xã, sự giàu nghèo của các tầng lớp dân cư, tầng lớp quý tộc thừa kế ngày một trở nên giàu có đã tách ra thành một lực lượng xã hội. Áp dụng các thể chế truỳên thống để củng cố địa vị của mình, tầng lớp quý tộc này đã chính thức hóa sở hữu cá nhân của mình nhằm bóc lột ngày càng nhiêu của cải xã hội của các cư dân bộ lạc. Điều đó làm cho chế độ thị tộc càng nhanh chóng tan rã, và các tố chức “quyền lực xã hội” của chế độ thị tộc dần trở thành công cụ công quyền thống trị những người dân không có tài sản.
2. Các hệ tư tưởng chính trị pháp lý ở Hy Lạp cổ đại:
2.1 Trường ca của Hôme và Ghexiôt
Các huyền thoại Hy Lạp cổ đại phần lớn thể hiện băng thơ ca, sau đó được đưa vào trường ca của Hôme và Ghexiôt.
Theo các trường ca này thì việc thiết lập quyền lực của các thiên thần trên dây núi Ôlempơ có quan hệ trực tiếp với việc thiết lập công băng, trật tự của một Nhà nước, nói một cách khác Nhà nước phải có thứ bậc như thứ bậc của các thần linh. Trong các trường ca, các vị thần xuất hiện như những người bảo vệ tối cao cho công bằng, bình đẳng, trừng phạt nghiêm khắc những kẻ gây ra bạo lực, đau thương, công bằng theo Hôme là cơ sở và nguyên tắc của tập quán pháp. Tập quán pháp là sự cụ thể hóa công bằng vĩnh cửu.
Một trong những văn bản đầu tiên ghi chép vê sự khỏi đầu của việc thiết lập chính quyên Nhà nước cổ Hy Lạp là bản trường ca tuyệt tác của Ghêxiôt, mang nặng màu sắc bi ai của người nông dân bị phá sản miền Bêôti, với nhan đề “lao động và ngày tháng” (cuối thế kỷ VIII - đầu thế kỷ VII TCN).
Nhà thơ nuối tiếc chế độ phụ hệ đang biến mất. Ông bùôn vì “thế kỷ hoàng kim”, thiên đường vĩnh viễn tan đi trong màn sương của quá khứ xa xôi. Ông căm giận trươc sự phụ thuộc hoàn toàn của những người tốt và hảo tâm vào bọn khốn nạn và tàn ác. Ghêxiôt tức giận khi phải chứng kiến sự lộng hành của “bọn vua chúa ăn hại dốt nát” (tức là giới quý tộc) cầm quyền. Chúng được tôn kính như thần thánh, chúng xét xử và trừng phạt, giải quyết các cuộc tranh chấp, mặc dù bản thân chúng ngập ngụa trong sự dốì trá và ăn hốì lộ. Pháp luật hoàn toàn thuộc về sức mạnh, đau khổ được dành cho những ai có ý định tranh cãi với kẻ mạnh để tìm ra chân lý. Trong thâm tâm Ghêxiôt, người đầu tiên thể hiện ý thức giai cấp đang trỗi dậy trong tầng lớp nông dân, đã không thầy chút hy vọng nào là có ngày chân lý sẽ thắng. Trường ca “lao động và ngày tháng” có những lời đe dọa trực tiếp bọn áp bức. Thần Dớt sẽ vung kiếm chém đầu bọn áp bức, sớm hay muộn người sẽ trị tội bọn lộng quyền, cướp bóc và lừa đảo, nó như một lời cảnh tỉnh đối với chế độ đương thời.
Trường ca của Ghêxiôt cho rằng thượng đê' là thần sáng tạo ra các nguyên tắc và sức mạnh của pháp luật, của đạo đức luân lý vốn có. Luận thuyết này vê sau được bố sung và phát triển với các tác giả của “các gia đình của những nhà hiền triết”, như Pitắc , Xô lông. Tất cả họ đều khảng định các đạo luật thống trị sự công bằng trong đời sống Nhà nước, xã hội. Ngày nay khi nghiền cứu vê Nhà nước pháp quyền đều có quan niệm chung rằng tư tưởng vê sự thông trị của luật trong đời sống Nhà nước, xã hội hình thành từ rất sớm, nó là phương tiện đảm bảo cho xã hội công bằng.
2.2 Tư tưởng chính trị pháp lý của Xôlông
Xôlông (638-559) là một trong bảy nhà hiên triết, nhà hoạt động chính trị, nhà hoạt động Nhà nước và hoạt đông lập pháp. Ông đã tiến hành một loạt cải cách nhằm xóa bở sự hỗn loạn trong các quốc gia thành thị và hòa giải các phe phái thù địch. Về các qui chế của ông, Ăngghen viết: “vì chế độ thị tộc không thế giúp đỡ nhân dân bị bóc lột, nên nhân dân bị bóc lột chỉ còn cách trông cậy vào Nhà nước vừa mđi ra đời. Và Nhà nước đã đến cứu giúp nhân dân băng các quy chế của Xôlông...”.
Vói các cuộc cải cách điên địa, chinh trị ông đã xóa bở chế độ nô lệ nợ nần, quy định mức sở hữu đất đại cao nhất, quyên chính trị và nghĩa vụ công dân tương ứng với sở hữu điền địa. Với sự thiết lập các cơ quan mới (hội đồng 400 người và đoàn bồi thẩm), việc điều hành cũng được cải cách. Tiêu chuẩn được bầu để giữ các chức vụ hành chính là mức tài sản. Phải chăng các cuộc cải cách của ông vẫn là nhằm bảo vệ lợi ích của tầng lớp quý tộc trong xã hội, Đồng thời nhằm “cải thiện” đời sống cư dân. Y nghĩa các biện pháp do Xôlông áp dụng trong các cuộc cải cách theo Ăngghen là ở chộ đã “mở đầu một loạt nhưng cái mà người ta gọi là những cuộc cách mạng chính trị, bằng cách xâm phạm vào tài sản”. Nói theo ngôn ngứ hiện đại, đế cải cách chính trị ông. đã bắt đầu bằng cài cách kinh tế.
Lý tưởng của ông là nền dân chủ tuyển cử ôn hòa, một chế độ mà lãnh đạo xã hội là những người quyền quý, cao sang và giàu có (các nhà công nghiệp, thương nhân), còn nhân dán thì chi có quyền lựa chọn và giám sát các quan chức. Điều đảm bảo cho sự bình yên quôc gia là chính quyền và luật pháp cứng rắn: "... tình trạng vô chính phủ sẽ đem lại bao tai họa, đưa thành phố tới chỗ diệt vong. Chỉ có pháp luật mới thiết lập được trật tự và tạo nên sự thông nhất”.
Có thể nói toàn bộ tư tưởng chính trị - pháp lý của ông được thể hiện trong câu nổi tiếng của mình: “ta giải phóng cho các ngươi bằng quyền lực của luật, hãy kết hợp sức mạnh và pháp luật”.
2.3 Tư tưởng chính trị pháp lý của Pitago
Pitago (580 - 500 TCN): Nếu như Ghêxiôt đứng về phía những người nông dân phá sản không nhà cửa, ruộng vườn, ngày càng bị bần cùng hóa, Xôlông đại diện cho tầng lớp thị dân đang lên thì Pitago đưa ra học thuyết về cơ bản bảo vệ quyền lợi của tầng lớp quý tộc. Tư tưởng cải biến chính trị - pháp lý của ông dựa trên cơ sở triết học. Học thuyết về các con số của Pitago đóng vai trò quan trọng trong việc biểu hiện các hiện tượng chính trị pháp lý. Ông cho rằng con sô' là cái đầu tiên và là bản chất của thế giới tự nhiặn cũng như xã hội.
Về pháp luật Pitago là một trong những người đầu tiên xây dựng lý thuyết vê sự bình đảng. Pháp luật, theo ông là phương tiện bằng nhau để bình thường hóa các quan hệ bất bình đẳng và của các cá nhân bất bình đẳng. Công băng chính là sự dên bù bằng nhau. Ông cho rằng sự công bằng là tiêu chuẩn, cơ sở đế’ con người xử sự với nhau.
Luận thuyết trung tâm-của Pitago là nhàm chống Những người bình dân (demos) và thiết chế Nhà nước dân chủ. Chẳng hạn như việc điều hành xã hội thuộc về tầng lớp những người được giáo đục thẩm mỹ - tín ngưỡng đặc biệt và hơn hẳn người khác về trí tuệ và đức hạnh (kiểu như tinh thần quý tộc). Ông kêu gọi vâng lời người trên và cha mẹ, hoàn toàn tuân thủ người cầm quyền và điều tệ hại nhất trong xâ hội chính là tình trạng không có lãnh đạo, không có chính quyền.
Tuy vậy, cũng không’thể hoàn toàn đánh đồng học thuyết chính trị của Pitago với tư tưởng của giới quý tộc thị tộc đang tàn lụi. Những người theo phái Pitago không ngăn cản sự phát triển các quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ mới mà ủng hộ sự phát triển các ngành nghề và thương mại. Pitago đòi tần phải thực hiện các mệnh lệnh của Nhà nước, tuân thủ pháp luật được ban hành, những Điều được ông đặt cao hơn các phong tục cổ truỳên không thành văn. Với những quan điểm đó về pháp luật đã đưa ông vào một trong những nhà “pháp trị”.
2.4 Tư tưởng chính trị pháp lý của Hêraclit
Hêraclit (530-410 TCN) là nhà triết học duy vật vĩ đại thuộc phái quý tộc thị tộc. Quan điểm chính trị - pháp lý của ông gắn liên với các quan niệm triết học. Theo ông, tư duy vốn cho con người tất cả, song Nhà nước và pháp luật cần phải tuân theo trí tuệ vê quản lý. Hêraclit không dấu giếm sự coi thường của mình đối vớỉ quần chúng lao động. Đô'i với nhà triết học, một con người hơn cả chục ngàn người nếu như người đó tuyệt hảo nhất. Nhiều người (tức dân chúng) thì tôi, còn một số ít thì tốt. Sự phục tùng ý nguyên một người là quy luật tất yếu.
Ông cho rằng “sự tuân thủ ý chí của nhà quản lý tốt, đó là luật”. Vì vậy Hêralit nhấn mạnh rằng, đế’ xây dựng và thông qua luật, không cần phải có sự tham gia, dÔng ý chung của hội nghị nhân dân. Cái chính trong nội dung của luật là sự phù hợp với trí tuệ quản lý. Trí tuệ của một người tốt nhất còn hơn trí tuệ của nhiêu người. Ông cho răng thế giới được tạo nên bởi những mâu thuẫn. Tất cả đều sinh ra trong một cuộc chiến tranh giữa các sức mạnh đối kháng, chiến tranh. Chiến tranh được dùng để giải quyết mọi mâu thuẫn. Vê quyền, theo Hêraclit là con đẻ của chiến tranh và sự tất yếu. Đồng thời, nó dường như là sự phản ánh của luật thiên định muôn đời. Hêraclit đưa ra tư tưởng thú vị về những đặc tính của quyền mà sau này được áp dụng và phát triển. Ông nói, những khái niệm về công băng và bất công được kính thành bởi chính con người, bởi lẽ đối vói trời (trời của Hêraclit đồng nhất với thiên nhiên, vũ trụ tôn tại một cách khách quan) tất cả đều hoàn mỹ và cân bằng. Hêraclit hết sức coi trọng pháp luật như phương thức thực hiện cái phổ biến. Các thành phố phải được thiết lập trên cơ sở pháp luật; người ta phải đấu tranh cho pháp luật như đấu tranh cho thành lũy của thành phố quê hương.
Nội dung bài viết:
Bình luận