Trình tự giải quyết tranh chấp thương mại thông qua Tòa án

Bài viết nhằm giúp người học nắm được các hình thức giải quyết tranh chấp thương mại thông qua Tòa án để có thể tư vấn cho các tổ chức kinh tế hoặc tự bảo vệ lợi ích kinh tế của mình trong hoạt động nghề nghiệp của mình.

Uu Diem Nhuoc Diem Cua Trong Tai Thuong Mai
Trình tự giải quyết tranh chấp thương mại thông qua Tòa án

1. Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

- Luật Thương mại 2005.

2. Tranh chấp thương mại là gì?

Tranh chấp thương mại là tranh chấp (bất đồng hoặc tranh chấp) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên liên quan đến việc thực hiện hoạt động thương mại.

3. Trình tự giải quyết tranh chấp thương mại thông qua Tòa án?

Trước đây, pháp luật Việt Nam quy định cụ thể về tố tụng kinh tế thì nay thủ tục này được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Bởi thực chất tranh chấp kinh tế là một dạng tranh chấp dân sự, tuy có những đặc điểm, yêu cầu riêng so với các loại tranh tụng khác nhưng Quá trình cải cách tư pháp nhà nước Việt Nam đã đáp ứng được những yêu cầu này.
Trình tự giải quyết tranh chấp kinh tế theo thủ tục pháp lý cụ thể như sau:

3.1. Nộp đơn khiếu nại

Thời hiệu khởi kiện áp dụng đối với tranh chấp thương mại là hai năm, kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, một trong hai bên tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện để yêu cầu người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. sở thích. Điều này được thực hiện thông qua một bộ tài liệu bao gồm:

Đơn kiến ​​nghị.
Các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Không có thỏa thuận bằng văn bản giữa các bên tham gia tố tụng. Về nguyên tắc, thỏa thuận này được xác định theo thỏa thuận trọng tài. Nếu các bên có thoả thuận trọng tài thì Trọng tài giải quyết tranh chấp kinh tế của các bên; ngược lại, nếu các bên không có thỏa thuận trọng tài thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh tế thuộc về Tòa án. Tuy nhiên, trong trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu; không xác định được cụ thể đối tượng tranh chấp là gì, Hội đồng trọng tài Việt Nam hoặc Trung tâm trọng tài nào có thẩm quyền quyết định; khi được nguyên đơn thông báo bằng văn bản hoặc được Toà án thông báo về việc nguyên đơn đã khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp mà bị đơn không phản đối hoặc bị đơn có phản đối nhưng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho việc đương sự. trước đó đã tham gia vào một thỏa thuận trọng tài; Nếu có quyết định của Toà án huỷ phán quyết trọng tài... thì vụ tranh chấp đó, kể cả khi các bên đã có thoả thuận trọng tài, vẫn thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.
Hồ sơ khởi kiện được gửi đến Tòa án nhân dân cấp huyện đối với các tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh, thương mại giữa các cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều nhằm mục đích lợi nhuận.
Không phụ thuộc vào giá trị tranh chấp, thời điểm tranh chấp mà xét theo đối tượng, nội dung tranh chấp, những tranh chấp đơn giản, không quá phức tạp thì Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết. Đối với các tranh chấp kinh tế khác, các bên sẽ khởi kiện ra tòa kinh tế thuộc tòa án nhân dân cấp tỉnh. Về đối tượng và nội dung tranh chấp, tòa kinh tế tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh tế rộng hơn so với tòa án nhân dân cấp huyện.

Điều này cho thấy, mặc dù được coi là một loại tranh chấp dân sự nhưng tranh chấp kinh tế được xác định là tranh chấp phức tạp hơn là tranh chấp đơn giản, thông thường. Trong đó, tranh chấp kinh tế có yếu tố nước ngoài bao gồm trường hợp một hoặc các bên tranh chấp là tổ chức, cá nhân nước ngoài; Nếu tranh chấp phát sinh ở nước ngoài mà hàng hóa, tài sản tranh chấp có ở nước ngoài thì không phụ thuộc vào nội dung tranh chấp luôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa kinh tế Tòa án nhân dân cấp tỉnh.
Theo thẩm quyền của mình, Toà án thụ lý vụ án là Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc hoặc có trụ sở. Các bên cũng có thể thỏa thuận về tòa án nơi nguyên đơn sinh sống, làm việc hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn. Trong trường hợp có tranh chấp về bất động sản, tòa án nơi tòa nhà tọa lạc có thẩm quyền xét xử.
Cần lưu ý rằng, theo thủ tục trọng tài hoặc thủ tục pháp lý thì thời hiệu khởi kiện cũng là 2 năm kể từ khi phát sinh tranh chấp. Tức là sau hai năm, các bên không còn quyền khởi kiện và Trọng tài, Tòa án không còn thụ lý giải quyết tranh chấp của các bên. Nhưng trong trường hợp này, các bên vẫn có thể giải quyết tranh chấp thông qua thủ tục thương lượng hoặc hòa giải.

3.2. Xét xử vụ án

Sau khi nhận đơn yêu cầu đòi lại công lý và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Thẩm phán phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ có mặt tại Tòa án để làm thủ tục đòi lại việc thanh toán án phí. tiền tạm ứng trong trường hợp phải nộp tiền tạm ứng án phí. (Điều 195 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015)

Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản cho nguyên đơn, bị đơn, cơ quan, tổ chức, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án. quyết định vụ án, báo cáo Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án thụ lý vụ án. (Điều 196 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015)

3.3. Chuẩn bị để giải quyết

Sau khi thụ lý vụ án, theo quy định tại Điều 197 và Điều 198 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: Chánh án chỉ định Thẩm phán để quyết định vụ án. Thẩm phán phải tiến hành chuẩn bị xét xử trong thời hạn 02 tháng, đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì có thể kéo dài nhưng không quá 01 tháng (điểm b khoản 1 Điều 10 Bộ luật này). pháp luật). 203 Bộ luật tố tụng dân sự 2015).
Chuẩn bị cho bài kiểm tra bao gồm các nhiệm vụ sau:

Đầu tiên, thu thập bằng chứng

Theo quy định tại Chương VII Bộ luật tố tụng dân sự 2015, đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp chứng cứ cho Tòa án; nếu không trả hoặc trả không đầy đủ thì phải chịu hậu quả của việc không trả hoặc trả không đầy đủ. Việc giao nhận chứng cứ của đương sự cho Tòa án phải được lập biên bản khi giao nhận chứng cứ. Trường hợp chứng cứ được nộp cho Tòa án bằng tiếng dân tộc thiểu số hoặc tiếng nước ngoài thì phải kèm theo bản dịch ra tiếng Việt đã được công chứng hoặc chứng thực hợp pháp. Ngoài ra, thẩm phán có quyền yêu cầu các bên đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án và thực hiện một hoặc nhiều biện pháp để thu thập chứng cứ nếu thấy cần thiết. Nếu các bên liên quan không thể tự mình thu thập chứng cứ và theo yêu cầu, thẩm phán có thể tiến hành xét xử các bên liên quan và nhân chứng, trưng cầu ý kiến ​​chuyên gia, quyết định định giá tài sản, xem xét, ước tính tại chỗ, ủy thác việc thu thập chứng cứ hoặc yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự.

Thẩm phán nghiên cứu, đánh giá nội dung tranh chấp kinh tế của các bên để làm căn cứ pháp lý cho các bước giải quyết tiếp theo.
Thứ hai, hòa giải

Theo quy định tại Điều 205 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, cũng như thủ tục trọng tài, việc hòa giải là bắt buộc trong tố tụng. Thẩm phán tiến hành hoà giải để các bên thoả thuận giải quyết tranh chấp, trừ tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản của Nhà nước và tranh chấp phát sinh từ giao dịch trái pháp luật. Đạo đức xã hội không được điều hòa.
Tham gia buổi hòa giải ngoài Thẩm phán còn có các Thư ký, các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ và người phiên dịch. Việc hoà giải phải được tiến hành trên nguyên tắc tôn trọng sự thoả thuận tự nguyện của các bên và nội dung thoả thuận giữa các bên không trái pháp luật, trái đạo đức xã hội. Tại phiên hòa giải, Thẩm phán phổ biến cho các bên đương sự các quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án để các bên liên hệ đến quyền và nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả pháp lý của việc hòa giải để các bên thống nhất với nhau. về việc giải quyết vụ án. Các bên tự do, tự nguyện lựa chọn giải pháp, giải pháp do thẩm phán đưa ra chỉ có tính chất tư vấn cho họ. Nếu các bên thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết tranh chấp thì Thẩm phán ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên tranh chấp. Quyết định này có hiệu lực ngay sau khi ban hành. Nếu hòa giải không thành thì Thẩm phán ra quyết định mở phiên tòa sơ thẩm để giải quyết vụ án.

3.4. Tòa sơ thẩm

Đây là phiên họp thứ nhất, theo quy định tại Chương XIV Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án cấp sơ thẩm gồm có một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân. Trong trường hợp đặc biệt, Toà án cấp sơ thẩm có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân. Ngoài ra còn có sự tham gia của Kiểm sát viên; đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; nhân chứng; giám khảo; người biểu diễn. Trong đó, nguyên đơn phải có mặt tại phiên tòa xét xử theo giấy triệu tập của Tòa án; nếu vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng thì phải hoãn phiên tòa. Nếu nguyên đơn được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Toà án ra quyết định đình chỉ giao dịch vụ án. Bị cáo phải có mặt tại phiên tòa khi được Tòa án triệu tập; nếu vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng thì phải hoãn phiên tòa. Nếu bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì tòa án tiếp tục tiến hành xét xử vắng mặt họ (xem thêm điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015).

Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục trong các giai đoạn mở đầu phiên tòa; chất vấn và tranh luận; phán xét và lên án. Kết thúc phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, kiểm sát xét xử và các chứng cứ đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa, Nhà nước CHXHCN Việt Nam đã tuyên các bản án, quyết định giải quyết và tuyên bố công khai của Tòa án. tại các phiên tòa. Theo nguyên tắc tự định đoạt, trong quá trình xét xử, các bên được khuyến khích thỏa thuận với nhau để giải quyết vụ việc. Nếu sự thỏa thuận của họ là tự nguyện và nội dung của giao dịch không trái pháp luật, đạo đức xã hội thì HĐXX ra bản án hoặc quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên.

3.5. Tòa phúc thẩm

Bảo đảm nguyên tắc hai cấp xét xử, trong trường hợp không đồng ý với bản án, quyết định sơ thẩm thì trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án, những người có quyền kháng cáo gồm: đương sự, đương sự. đại diện, cơ quan, tổ chức tố tụng; Người có quyền kháng nghị gồm Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp và Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng cáo, kháng nghị để Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử và khôi phục bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm (Xem thêm bài viết 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015).
Theo quy định tại Điều 286 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, phiên tòa xét xử phúc thẩm được mở trong thời hạn 03 tháng hoặc 04 tháng, kể từ ngày Tòa án nhận được yêu cầu kháng cáo, kháng nghị đối với bản án hoặc quyết định sơ thẩm. . Khác với Hội đồng xét xử sơ thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm ba Thẩm phán. Tham gia phiên Tòa phúc thẩm gồm có người kháng cáo, đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan đến việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; Kiếm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp trong trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị hoặc đã tham gia phiên Tòa sơ thẩm; những người tham gia tố tụng khác đo Tòa án triệu tập nếu thấy cần thiết cho việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị.
Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại phần của bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị (Điều 293 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015).

Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm sẽ ra một trong các quyết định sau đây (Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015:

Giữ nguyên bản án sơ thẩm;

Sửa bản án sơ thẩm;

Hủy bản án sơ thẩm, hủy một phần bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm;

Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án;

Đình chỉ xét xử phúc thẩm;

Tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án khi có văn bản của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên cho đến khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền có văn bản trả lời Tòa án kết quả xử lý.
Tương tự như tại phiên Tòa sơ thẩm, để bảo đảm nguyên tắc tự định đoạt, tại phiên Tòa phúc thẩm, nếu các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết tranh chấp và thoả thuận của họ là tự nguyện, không trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội thì Hội đồng xét xử phúc thẩm ra bản án, quyết định phúc thẩm sửa bản án, quyết định sơ thẩm, công nhận sự thoả thuận của các đương sự.

3.6. Giám đốc thẩm, tái thẩm

Theo nguyên tắc xét xử hai cấp, các bên tranh chấp kinh tế chỉ được yêu cầu Tòa án xét xử sơ thẩm và phúc thẩm. Tuy nhiên, để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp, bảo đảm tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật, tranh chấp kinh tể có thể được giải quyết theo thủ tục đặc biệt là giám đốc thẩm, tái thẩm. Nội dung này được quy định tại Chương XX và Chương XXI Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 như sau:

Giám đốc thẩm: xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị giám đốc thẩm khi có một trong các căn cứ: (Điều 325 và điều 326 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015)

Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự;

Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm cho đương sự không thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình, dẫn đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ không được bảo vệ theo đúng quy định của pháp luật;

Có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật dẫn đến việc ra bản án, quyết định không đúng, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba.
Tải thẩm: là xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án, các đương sự không biết được khi Tòa án ra bản án, quyết định đó. (Điều 351 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015)

Điểm khác biệt căn bản giữa phiên Tòa giám đốc thẩm và tái thẩm với phiên Tòa phúc thẩm là xét lại bản án, quyết định đã có hiệu. Do tính đặc thù này, chỉ có Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao mới có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án các cấp, trừ trường hợp quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Chánh án Toà án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có quyền kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân cấp huyện. Người kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có quyền quyết định tạm đình chỉ việc thi hành bản án, quyết định đó cho đến khi có quyết định tái thẩm.

Các bên tranh chấp có nghĩa vụ thi hành bản án, quyết định thực tế của Tòa án.

Nội dung bài viết:

    Hãy để lại thông tin để được tư vấn

    comment-blank-solid Bình luận

    084.696.7979 19003330 Báo giá Chat Zalo