Quy định của pháp luật về quyền có lối đi chung ? Thẩm quyền giải quyết tranh chấp về sở hữu chung? Thủ tục và trình tự giải quyết tranh chấp lối đi chung?

Với dân số tương đối lớn ở Việt Nam trên 87 triệu người, vấn đề đất đai là vô cùng cấp thiết. Nhiều hộ bị chiếm đất hoặc bị bao vây bởi các hộ khác ngày càng đông. Vấn đề này đã được pháp luật giải quyết kịp thời thông qua các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005.
1. Quy định của pháp luật về quyền có lối đi chung:
Quyền sử dụng bất động sản liền kề được quy định tại Điều 273 Bộ luật Dân sự năm 2005:
“Chủ sở hữu, người sử dụng đất có quyền sử dụng bất động sản liền kề thuộc sở hữu của người khác để bảo đảm các nhu cầu về đường đi lại, cấp nước, thoát nước, cấp khí đốt, đường dây tải điện, truyền tải điện, thông tin liên lạc và các nhu cầu hợp lý khác nhưng phải được bồi thường, trừ trường hợp thỏa thuận khác.”
Ngoài ra, Điều 275 BLDS 2005 còn quy định về quyền đi đường trong nhà liền kề, cụ thể như sau:
"Đầu tiên. Chủ sở hữu của các tòa nhà bị bao vây bởi tài sản của các chủ sở hữu khác mà không có lối ra, có quyền yêu cầu một trong những chủ sở hữu của các tòa nhà liền kề dành một lối ra cho họ. Người tìm kiếm có nghĩa vụ đáp ứng yêu cầu. Chủ sở hữu của phần lấn chiếm phải đền bù cho chủ sở hữu nhà liền kề, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Một lối đi được mở trên đó bất động sản liền kề được coi là thuận tiện và hợp lý nhất, có tính đến các chi tiết cụ thể của địa điểm, lợi ích của bất động sản có hàng rào và thiệt hại tối thiểu đối với bất động sản tiếp cận mở.
2. Vị trí, giới hạn chiều dài, chiều rộng và chiều cao của lối đi phải do các bên thỏa thuận, bảo đảm thuận tiện cho việc di chuyển và ít gây phiền hà cho các bên; nếu có tranh chấp về lối đi thì có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định.
3. Trường hợp tài sản được chia thành nhiều phần cho các chủ sở hữu, chủ sử dụng khác nhau thì khi chia tài sản phải dành phần lối đi cần thiết cho những người bên trong theo quy định tại khoản 2 Điều này mà không phải đền bù.
Như vậy, pháp luật dân sự có quy định rõ ràng về quyền có lối đi chung. Do đó, bất động sản bên trong có quyền mở lối đi qua bất động sản liền kề. Nếu nhà đất bên ngoài cho rằng lối đi này là của mình thì có nghĩa vụ chứng minh và việc bồi thường sẽ theo thỏa thuận hoặc pháp luật quy định. Trên thực tế cho thấy rằng, các tranh chấp phát sinh liên quan đến vấn đề này diễn ra khá phổ biến.
2. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lối đi chung:
Được quy định tại Điều 136 Luật đất đai năm 2003:
– Tiến hành hòa giải cơ sở: Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn.
– Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Toà án nhân dân giải quyết;
– Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật này được giải quyết như sau:
Trường hợp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết lần đầu mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết; quyết định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là quyết định giải quyết cuối cùng;
Trường hợp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết lần đầu mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường; quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường là quyết định giải quyết cuối cùng.
3. Thủ tục, trình tự giải quyết tranh chấp lối đi chung:
a. Hòa giải cơ bản
Điều 135 Luật đất đai 2003 quy định rõ về hòa giải tranh chấp đất đai, cụ thể như sau:
– Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự giải quyết hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.
- Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì phải gửi đơn yêu cầu đến Uỷ ban nhân dân cấp xã, huyện, xã nơi có đất tranh chấp. Uỷ ban nhân dân xã, huyện, thị trấn phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ chức xã hội khác trong việc hoà giải tranh chấp đất đai.
- Thời hạn hoà giải là ba mươi ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu của Uỷ ban nhân dân xã, huyện, phường. Kết quả hòa giải tranh chấp đất đai phải được lập thành biên bản, có chữ ký của các bên tranh chấp và xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, huyện, thị trấn nơi có đất. Trường hợp kết quả hòa giải không đúng với hiện trạng sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn chuyển kết quả hòa giải đến các cơ quan nhà nước có liên quan để giải quyết theo quy định của pháp luật về quản lý đất đai.
b. Thủ tục và trình tự giải quyết tranh chấp tại tòa án
* Thủ tục lập hồ sơ và nộp đơn khiếu nại:
- Yêu cầu khởi tố gồm: Yêu cầu khởi tố; Giấy tờ về nguồn gốc đất; Bằng chứng liên quan đến phiên tòa.
- Thủ tục nộp hồ sơ, tài liệu:
Đương sự phải nộp hồ sơ trực tiếp tại Toà án hoặc gửi qua đường bưu điện. Nộp tiền tạm ứng án phí để Tòa án thụ lý vụ án;
* Hòa giải trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án:
Trước khi tiến hành phiên hoà giải, Toà án phải thông báo cho các bên đương sự, người đại diện hợp pháp của họ về thời gian, địa điểm tiến hành phiên hoà giải, nội dung các vấn đề cần hoà giải.
– Nội dung hòa giải: Trong quá trình hòa giải, Thẩm phán phổ biến cho các bên đương sự các quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án để các bên liên hệ đến quyền và nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả pháp lý của việc hòa giải thành họ tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.
- Trình tự hòa giải:
Khi tiến hành hòa giải, Thư ký báo cáo với Thẩm phán về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên hòa giải đã được Tòa án thông báo. Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải kiểm tra sự có mặt, nhận dạng của những người tham gia phiên hòa giải.
Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải theo nội dung hòa giải. Các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày ý kiến về nội dung tranh chấp và đề xuất những vấn đề cần hòa giải.
Thẩm phán xác định những vấn đề các đương sự đã thống nhất, những vấn đề chưa thống nhất và yêu cầu các đương sự trình bày bổ sung những nội dung chưa rõ, chưa thống nhất.
Thẩm phán kết luận những vấn đề các bên đã hòa giải thành và những vấn đề chưa hòa giải được.
- Biên bản hòa giải: Việc hòa giải được Thư ký ghi vào biên bản. Biên bản hòa giải phải có các thành phần chính sau đây: Ngày, tháng, năm tiến hành phiên hòa giải; Địa điểm tiến hành phiên hòa giải; Thành phần tham gia phiên hòa giải; Thông báo của các bên bị ảnh hưởng hoặc đại diện hợp pháp của họ; Nội dung đã được các bên liên quan thống nhất, không thỏa thuận. của thẩm phán chủ trì phiên hòa giải. Khi các bên đương sự thoả thuận được với nhau về những vấn đề cần giải quyết trong vụ án dân sự thì Toà án lập Biên bản hoà giải thành. Báo cáo này được gửi ngay cho các bên liên quan tham gia hòa giải.
- Hết thời hạn bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành, nếu không có bên nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận này thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc Thẩm phán được Chánh án Tòa án ủy quyền ra quyết định công nhận với thỏa thuận của các bên liên quan. Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, Tòa án phải gửi quyết định này cho các đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp.
* Phiên tòa sơ thẩm:
- Nếu các bên đương sự không thoả thuận được về cách giải quyết thì Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm.
Trong thời hạn một tháng, kể từ ngày tuyên án quyết định đưa vụ án ra xét xử, Toà án phải mở phiên toà xét xử.
– Trong vòng ba ngày làm việc sau khi kết thúc phiên điều trần; đương sự, cơ quan và cơ quan tiến hành tố tụng được Toà án cấp trích lục bản án. Trong thời hạn mười ngày sau khi tuyên án, tòa án phải tuyên hoặc chuyển bản án cho các bên có liên quan, cơ quan hoặc tổ chức khởi kiện và cho các cơ quan công tố cùng cấp.
- Trong trường hợp các bên tranh chấp không đồng ý với bản án của Toà án xét xử thì có quyền kháng cáo bản án, quyết định xét xử để yêu cầu Toà án cấp trên trực tiếp giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Thời hạn kháng cáo bản án sơ thẩm của Tòa án là mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nội dung bài viết:
Bình luận