
1. Tranh chấp quốc tế
Trong thực tiễn tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về tranh chấp quốc tế, PCIJ - Tòa án Công lý Quốc tế Thường trực của Hội Quốc Liên (tiền thân của Tòa án Công lý Quốc tế) trong vụ án 'Tranh chấp là không có khả năng xét xử' một vấn đề pháp luật hoặc sự kiện nhất định, là xung đột về quan điểm và lợi ích pháp lý giữa hai chủ thể.”[1] ICJ - Tòa án Công lý Quốc tế cho rằng tranh chấp là "tình huống trong đó hai bên thể hiện quan điểm trái ngược nhau về thực hiện hoặc không thực hiện một nghĩa vụ cụ thể." quy định trong điều ước". Tòa trọng tài trong vụ Texaco kiện Libya, theo Libya, tranh chấp là "sự tồn tại xung đột lợi ích và quan điểm pháp lý đối lập". Các định nghĩa tuy có những điểm khác nhau nhưng đều có một điểm chung đó là sự không thống nhất, thậm chí xung đột về quan điểm pháp lý cũng như lợi ích của các bên. Tranh chấp quốc tế phát sinh do mối quan hệ và lợi ích phức tạp, đan xen lẫn nhau trên nhiều lĩnh vực giữa các quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tế. Trong các cuộc xung đột quốc tế, tranh chấp lãnh thổ là một trong những vấn đề dai dẳng, khó giải quyết và có thể dẫn đến chiến tranh.
2. Lãnh thổ và tranh chấp lãnh thổ
Lãnh thổ quốc gia là một trong những bộ phận cấu thành không thể thiếu của bất kỳ quốc gia nào[4], đồng thời cũng là tiêu chí cơ bản để xác định một quốc gia có phải là đối tượng điều chỉnh của luật kinh tế quốc tế hay không. Lãnh thổ quốc gia gắn liền với điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội, quốc phòng, an ninh của mỗi quốc gia. Vì vậy, lãnh thổ quốc gia là môi trường tự nhiên và là cơ sở vật chất để Nhà nước tồn tại và phát triển trong cộng đồng quốc tế. Đồng thời, lãnh thổ quốc gia cũng gắn liền với các quốc gia khác, trước hết là với các quốc gia láng giềng hoặc các quốc gia trong khu vực. Một quốc gia không thể tồn tại nếu không có lãnh thổ. Lãnh thổ được xác lập theo không gian thực hiện quyền lực chủ quyền quốc gia. “Nếu mất hoàn toàn lãnh thổ, quốc gia sẽ không tồn tại trên thực tế”[5]. Như vậy, khái niệm lãnh thổ không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với bản thân nhà nước đó mà là yếu tố không thể thiếu trong quan hệ quốc tế. Lãnh thổ quốc gia phải được xác định cụ thể theo các quy định của pháp luật quốc tế để mỗi quốc gia tự do thực hiện chủ quyền của mình trong lãnh thổ, đồng thời là điều cần thiết để các quốc gia tôn trọng chủ quyền của quốc gia khác. Trong số các đối tượng tranh chấp, các tranh chấp có nguyên nhân về chính trị, pháp lý liên quan đến lãnh thổ biên giới quốc gia, an ninh, quốc phòng giữa các quốc gia từ trước đến nay luôn có nguy cơ rất lớn đe dọa hòa bình, an ninh quốc tế nếu tranh chấp, căng thẳng kéo dài và không được giải quyết dứt điểm bằng các biện pháp hòa bình. Thực tiễn lịch sử thế giới đã chứng minh chính tranh chấp lãnh thổ, biên giới quốc gia là nguyên nhân gián tiếp và trực tiếp của nhiều cuộc xung đột quân sự lớn, có thể kế đến như tranh chấp vùng Alsace-Lorraine giữa Pháp và Đức đã là nguyên nhân khiến cho quan hệ hai nước này căng thẳng và là một phần nguyên nhân của hai cuộc Chiến tranh Thế giới 1914 và 1939[6]; Tranh chấp vùng Danzig (nay là Gdansk, thuộc Ba Lan) giữa Ba Lan và Đức Quốc xã là một trong những nguyên nhân làm bùng nổ Chiến tranh Thế giới thứ hai vào năm 1939[7]; Chiến tranh giữa Anh và Argentina 1982 liên quan đến tranh chấp chủ quyền quần đảo Falkland; Chiến tranh giữa Israel và các quốc gia Ả Rập trong các năm 1948, 1956, 1967, 1973[8]; Chiến tranh Iran – Iraq 1980 – 1988 liên quan đến vùng đất tranh chấp ở Khuzestan và đường biên giới ở cửa sông Sat al - Arap[9]; Chiến tranh vùng Vịnh 1990 -1991 có nguyên nhân chủ yếu là tranh chấp về lãnh thổ giữa Iraq và Kuwait dẫn đến hành động tấn công Kuwait của Iraq[10]… Các cuộc chiến tranh này đã gây ra nhiều thiệt hại to lớn về người và của, không chỉ trong khoảng thời gian đó mà còn để lại những di chứng khủng khiếp cho các thế hệ sau.
3. Các biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp lãnh thổ
Tranh chấp quốc tế có thể dẫn đến nguy cơ xung đột quân sự và chiến tranh. Vì vậy, khi có tranh chấp quốc tế phát sinh, việc giải quyết tranh chấp có ý nghĩa quan trọng vì nó liên quan đến việc duy trì hòa bình, an ninh toàn cầu và chấm dứt xung đột, bất đồng giữa các bên liên quan. Ngoài ra, giải quyết tranh chấp còn góp phần thúc đẩy hơn nữa việc tôn trọng và thực hiện luật pháp quốc tế của các quốc gia. Việc giải quyết đó được thực hiện bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với pháp luật quốc tế, trên cơ sở điều ước quốc tế hoặc tập quán quốc tế được các bên tranh chấp thừa nhận được áp dụng để giải quyết tranh chấp quy định tại khoản 1 Điều này.1 Điều 38 Quy chế của Tòa án quốc tế về Sự công bằng .
"a. Điều ước quốc tế chung hoặc riêng quy định những nguyên tắc được các bên tranh chấp thừa nhận;
b. Tập quán quốc tế với tư cách là bằng chứng của tập quán chung, được công nhận là chuẩn mực pháp lý;
so với Các nguyên tắc chung của pháp luật được các quốc gia văn minh thừa nhận;
d. Căn cứ vào các điều kiện quy định tại Điều 59, các án lệ và học thuyết của các chuyên gia có trình độ cao nhất về luật quốc tế của các Quốc gia khác nhau được coi là phương tiện xác định các quy phạm pháp luật.11]. Giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng phương pháp hòa bình là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế hiện đại. Đây là hệ quả của nghĩa vụ cấm sử dụng vũ lực trong các quan hệ quốc tế[12]. Nguyên tắc này đã được ghi nhận từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX trong Công ước La Hay 1899 và 1907,[13] sau đó tại Hiệp ước Briand-Kellog ngày 27/8/1928[14]. Nó được chính thức thừa nhận là nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế lần đầu tiên tại khoản 3 Điều 2 Hiến chương Liên hợp quốc: “Tất cả các Thành viên giải quyết các tranh chấp quốc tế của họ bằng biện pháp hòa bình, theo cách không làm nguy hại đến hòa bình, an ninh quốc tế và công lý”[15], và được khẳng định một lần nữa tại Tuyên bố ngày 24/10/1970 của Đại hội đồng Liên hợp quốc (Nghị quyết số 2625) : “Mọi quốc gia có nghĩa vụ từ bỏ việc sử dụng hoặc đe dọa dùng vũ lực nhằm vi phạm sự tồn tại của các đường biên giới của các quốc gia khác, hoặc sử dụng như là các biện pháp giải quyết tranh chấp quốc tế bao gồm các tranh chấp về lãnh thổ và các vấn đề liên quan đến biên giới của các quốc gia… Tất cả các quốc gia sẽ giải quyết các tranh chấp quốc tế với những quốc gia khác bằng các biện pháp hòa bình mà không làm phương hại đến hòa bình, an ninh và công lý quốc tế”[16]. Bên cạnh việc ghi nhận nguyên tắc giải quyết tranh chấp hòa bình, Hiến chương Liên hợp quốc cũng đã xây dựng hệ thống các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế tại Điều 33: “Các bên đương sự trong các cuộc tranh chấp, mà việc kéo dài các cuộc tranh chấp ấy có thể đe dọa đến hòa bình và an ninh quốc tế, trước hết, phải cố gắng tìm cách giải quyết tranh chấp bằng con đường đàm phán, điều tra, trung gian, hòa giải, trọng tài, tòa án, sử dụng những tổ chức hoặc những hiệp định khu vực, hoặc bằng các biện pháp hòa bình khác tùy theo sự lựa chọn của mình”. Căn cứ vào nội dung của Điều 33 Hiến chương, có thể chia các biện pháp hòa bình để giải quyết các tranh chấp quốc tế thành hai nhóm cơ bản:
Nhóm 1, các biện pháp giải quyết tranh chấp ngoại giao, bao gồm: đàm phán, điều tra, trung gian, hòa giải, viện dẫn các tổ chức hoặc hiệp định khu vực;
Nhóm 2, biện pháp giải quyết tranh chấp bằng trọng tài quốc tế, thông qua tòa án quốc tế và trọng tài quốc tế. - Về Nhóm biện pháp giải quyết tranh chấp ngoại giao
Các biện pháp ngoại giao được sử dụng để giải quyết các tranh chấp quốc tế đã xuất hiện từ rất sớm và luôn giữ vai trò quan trọng. Kết quả của việc sử dụng các biện pháp ngoại giao thường là các nghị quyết, khuyến nghị của các tổ chức quốc tế hoặc các cam kết, điều ước quốc tế mà các bên xung đột đã ký kết. Đàm phán (Đàm phán)
Trong số các phương thức giải quyết tranh chấp, thương lượng được coi là phương pháp thân thiện, được áp dụng phổ biến và hiệu quả nhất, có lịch sử lâu đời dựa trên việc phát biểu ý kiến trực tiếp và tiếp thu ý kiến, quan điểm của người đối thoại mà không có sự can thiệp của bên thứ ba. Đối tượng, thành phần, mức độ tham gia cũng như hình thức bảo đảm do các quốc gia tham gia tự thỏa thuận nhưng phải luôn tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế. So với các phương thức giải quyết tranh chấp khác, thương lượng có nhiều ưu điểm hơn. Trước hết, đàm phán linh hoạt, chủ động, không gò bó về thời gian, địa điểm. Thứ hai, đàm phán hạn chế sự can thiệp trực tiếp từ bên thứ ba (thậm chí cả cộng đồng quốc tế) và không làm phức tạp thêm nội dung tranh chấp. Thứ ba, nó tiết kiệm thời gian và tiền bạc cho các bên xung đột. Tuy nhiên, không phải lúc nào đàm phán cũng thành công mà còn phụ thuộc vào mức độ thiện chí, sự mềm dẻo, linh hoạt và nhạy bén của các bên tham gia đàm phán. Thái độ thù địch và sự bất đồng về chính trị là những nguyên nhân làm quá trình đàm phán phức tạp hay nghiêm trọng hơn là không đạt được bất kỳ một sự thỏa thuận nào[17]. Trong một số trường hợp, đàm phán là nghĩa vụ bắt buộc của các bên tranh chấp quy định trong các điều ước quốc tế song phương hay đa phương[18]. Ngoài ra, các phán quyết của các cơ quan tài phán quốc tế cũng có thể trực tiếp yêu cầu các bên tham gia vào đàm phán với sự thiện chí cũng như đòi hỏi các bên phải đạt được một thỏa thuận nhất định. Trong vụ tranh chấp Thềm lục địa Biển Bắc, Tòa án Công lý quốc tế đã đưa ra phán quyết: “Các bên phải tiến hành một cuộc đàm phán nhằm đạt được một thỏa thuận và họ phải có nghĩa vụ xử sự sao cho cuộc đàm phán có ý nghĩa, đó không phải là trường hợp mà một trong các bên khăng khăng giữ lập trường của riêng mình không có bất kỳ một sự điều chỉnh nào”[19]. Về thực tiễn giải quyết tranh chấp lãnh thổ thành công thông qua con đường đàm phán, đã có những vụ việc điển hình như cuộc hòa đàm Gadsden 1853 giải quyết dứt điểm những tranh chấp lãnh thổ giữa Hoa Kỳ và Mexico[20]; đàm phán giải quyết tranh chấp đảo Sakhalin giữa Đế quốc Nga và Nhật Bản với kết quả là Hiệp định Saint Petersburg năm 1875[21]; các cuộc đàm phán hòa bình từ năm 1963 đến năm 1966 giữa Thủ tướng Malaysia Tunku Abdul Rahman, Tổng thống Indonesia Sukarno và Tổng thống Philippines Macapagal cuối cùng đã giải quyết thành công tranh chấp lãnh thổ vùng Borneo[22]; Hiệp định Phân giới và hợp tác trên biển Barents 2010 giải quyết tranh chấp trên biển Barents giữa Liên bang Nga và Na Uy, kết thúc tình hình căng thẳng cản trở việc thăm dò khai thác dầu khí lẫn đánh bắt thủy sản của cả hai quốc gia bắt đầu từ thập niên 1970[23]; những cuộc đàm phán thường xuyên về vịnh Bắc Bộ trong hai năm 1999, 2000 đưa đến kết quả là Hiệp định phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa ở vịnh Bắc Bộ vào ngày 25/12/2000 giữa Việt Nam và Trung Quốc.
Biện pháp hòa giải bởi một bên trung gian
Trung gian hòa giải là biện pháp giải quyết tranh chấp quốc tế mang tính ngoại giao có sự tham gia của bên thứ ba với sự chấp nhận của các bên tranh chấp, đã được quy định trong các Công ước La Hay 1899 và 1907. Nhiệm vụ của bên trung gian là khuyến khích, động viên các quốc gia có liên quan đến tranh chấp giải quyết vụ tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, cụ thể là việc tác động để các bên tiếp xúc ngoại giao và tiến hành các cuộc đàm phán chính thức. Bên trung gian hòa giải này có thể là một hoặc số quốc gia, một hoặc một số cá nhân có uy tín và cũng có thể là thông qua cơ quan của tổ chức quốc tế. Cùng với sự phát triển của pháp luật quốc tế, biện pháp trung gian hòa giải ngày càng được sử dụng phổ biến, đặc biệt là từ thập niên 90 của thế kỷ XX. Số vụ tranh chấp có sử dụng hòa giải trong thời kỳ này tăng 469% so với giai đoạn trước đó, thậm chí về số lượng còn nhiều hơn toàn bộ giai đoạn 1945-1989.[24] Trong thực tiễn giải quyết tranh chấp lãnh thổ, trung gian hòa giải đã giải quyết thành công nhiều vụ việc như tranh chấp giữa Algeria và Marocco 1963-1964, các nước láng giềng Mali và Ethiopia đã đứng ra làm trung gian hòa giải và đồng thời giám sát việc ngừng bắn, vai trò trung gian của Hoa Kỳ đối với tiến trình hòa giải tranh chấp lãnh thổ tại Trung Cận Đông từ năm 1973 cho đến nay[25], Liên minh Châu Âu (EU) trung gian hòa giải thành công cho tranh chấp lãnh thổ giữa Slovenia và Croatia năm 2010, hai quốc gia châu Phi Etrirea và Djibouti đồng ý để Qatar đứng ra làm trung gian hòa giải cho tranh chấp lãnh thổ biên giới gần Ras Doumeira năm 2010[26],…
- Về nhóm biện pháp giải quyết tranh chấp thông các cơ quan tài phán quốc tế
Điều 33 của Hiến chương Liên hợp quốc đã liệt kê các biện pháp giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế giữa các quốc gia, bao gồm: “đàm phán, điều tra, trung gian, hoà giải, trọng tài, toà án, sử dụng những tổ chức hoặc những điều ước khu vực, hoặc bằng các biện pháp hoà bình khác tùy theo sự lựa chọn của mình”[27]. Việc giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng trọng tài quốc tế hoặc bằng các biện pháp pháp lý là việc nhờ đến các cơ quan tài phán quốc tế trên cơ sở các bên tranh chấp thoả thuận hoặc thừa nhận các phương thức, thủ tục tư pháp. Căn cứ vào sự hình thành, cơ cấu tổ chức, hoạt động, phương thức giải quyết tranh chấp, hiệu lực của phán quyết cũng như cơ chế bảo đảm thi hành phán quyết, có thể chia các cơ quan trọng tài quốc tế thành hai loại: Tòa án Công lý quốc tế và trọng tài quốc tế. . . - Về giải quyết tranh chấp thông qua Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc
Theo Điều 24 của Hiến chương Liên hợp quốc, các quốc gia thành viên của Liên hợp quốc giao cho Hội đồng Bảo an trách nhiệm chính trong việc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế. Hội đồng Bảo an có thể áp dụng các biện pháp giải quyết hòa bình các tranh chấp và xung đột, và nếu cần thiết, có thể sử dụng các biện pháp, kể cả cưỡng chế và dùng vũ lực, để loại bỏ các mối đe dọa, phá hoại hòa bình hoặc các hành vi 'tấn công'. Các điều khoản của Hiến chương liên quan đến Hội đồng Bảo an nằm trong các Chương V, VI, VII, VIII và XII.
4. Kết thúc
Tranh chấp giữa các quốc gia về biên giới quốc gia, lãnh thổ đã tồn tại lâu đời và khó giải quyết. Trong quá khứ, các quốc gia xung đột thường sử dụng vũ lực để giải quyết sự khác biệt của họ. Điều này đe dọa sự ổn định của hòa bình và an ninh quốc tế. Kể từ khi Liên hợp quốc được thành lập vào năm 1945, luật pháp quốc tế liên quan đến việc giải quyết các tranh chấp lãnh thổ và biên giới ngày càng trở nên hữu ích. Các công cụ luật pháp quốc tế của Liên hợp quốc thúc đẩy giải quyết hòa bình các tranh chấp và nghiêm cấm sử dụng vũ lực. Tùy theo tính chất của từng tranh chấp, các bên tranh chấp có thể lựa chọn thủ tục, thể chế giải quyết tranh chấp một cách hòa bình. Các tranh chấp hiện nay về vấn đề biển giữa các quốc gia rất đa dạng và phức tạp. Chúng liên quan đến các vấn đề như phân định ranh giới trên biển, áp dụng và giải thích Công ước về Luật Biển hay chủ quyền lãnh thổ trên biển... Có những tranh chấp đã diễn ra hàng thế kỷ mà vẫn chưa được giải quyết. Các thể chế quốc tế chịu trách nhiệm giải quyết các tranh chấp này đã thay đổi và được cải thiện. Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế đòi hỏi phải tiếp tục phát triển để giải quyết các tranh chấp này bằng biện pháp hòa bình, góp phần vào hòa bình, ổn định và phát triển của thế giới. Đối với Việt Nam hiện nay, các tranh chấp trên Biển Đông mà chúng ta là một trong các bên trực tiếp đã và đang diễn ra lâu dài, đe dọa lớn đến môi trường an ninh, hòa bình ở khu vực cũng như trên thế giới. Quan điểm chính thức của Nhà nước Việt Nam về vấn đề này như sau: “Lập trường của Việt Nam về giải quyết các tranh chấp liên quan ở Biển Đông là rõ ràng và nhất quán, trong đó Việt Nam luôn ủng hộ giải quyết các tranh chấp về quyền và tài phán ở Biển Đông. biển thông qua các tiến trình ngoại giao và pháp lý, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực và bằng các giải pháp, biện pháp hòa bình phù hợp, phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 ( ước).”[28] Do đó, là một quốc gia yêu chuộng hòa bình, luôn tuân thủ luật pháp quốc tế, Việt Nam đã thể hiện rõ thiện chí áp dụng các biện pháp hòa bình trong giải quyết các tranh chấp. Trong số các biện pháp hòa bình đó, biện pháp pháp lý sẽ là biện pháp cuối cùng nhưng cũng sẽ là biện pháp mà Việt Nam có thể sử dụng để bảo vệ các lợi ích biển chính đáng của mình ở Biển Đông.
Nội dung bài viết:
Bình luận