1. Tổng hợp các bản án được Tòa áp dụng làm án lệ về đất đai:
– Bản án 42/2019/DS-PT ngày 28/10/2019 về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất;
– Bản án 154/2020/DS-PT ngày 12/06/2020 về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất;
– Bản án 115/2018/DS-PT ngày 12/09/2018 về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất;
– Bản án 180/2020/DS-PT ngày 22/06/2020 về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất;
– Bản án 13/2018/DS-ST ngày 26/10/2018 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản;
– Bản án 147/2020/DS-ST ngày 17/12/2020 về tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất;
– Bản án 375/2019/DS-PT ngày 28/08/2019 về tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất, tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
– Bản án 41/2019/DS-PT ngày 12/06/2019 về tranh chấp thừa kế tài sản;
– Bản án 140/2019/DS-PT ngày 31/07/2019 về tranh chấp thừa kế tài sản, đòi quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bồi thường thiệt hại tài sản;
– Bản án 41/2020/DS-PT ngày 16/06/2020 về yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, tranh chấp chia di sản thừa kế.
Bản án dân sự về tranh chấp đất đai
2. Nội dung chính của một số bản án tiêu biểu về đất đai:
2.1. Án lệ số 11/2017/AL về công nhận hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất mà trên đất có tài sản không thuộc sở hữu của bên thế chấp:
– Tình huống: Một bên thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự nhưng trên đất còn có tài sản thuộc sở hữu của người khác; hình thức và nội dung của hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật.
– Nội dung vụ án:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 06-10-2011 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần A trình bày:
Ngày 16-6-2008, Ngân hàng Thương mại cổ phần A (sau đây viết tắt là Ngân hàng) và Công ty trách nhiệm hữu hạn B (sau đây viết tắt là Công ty B) ký Hợp đồng tín dụng số 1702-LAV-200800142. Theo đó, Ngân hàng cho Công ty B vay 10.000.000.000 VND và/hoặc số tiền tương đương bằng ngoại tệ. Mục đích cấp tín dụng để bổ sung vốn lưu động phục vụ sản xuất kinh doanh theo ngành nghề công ty B đã đăng ký.
Bên B đã thực hiện các biện pháp bảo đảm cho khoản vay trên, bao gồm:
– Nhà, đất [Đất số 43, Tờ bản đồ số 51-1-33 (1996)] tại số 432, tổ 28, phường E, quận G, thành phố Hà Nội do vợ chồng ông Trần Duyên H sở hữu, sử dụng Lưu Thị Minh N (theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất số 10107490390 do UBND TP.Hà Nội cấp ngày 07/12/2000) của ông Trần Duyên H, bà Lưu Thị Minh N. thế chấp bằng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 11-6-2008. Hợp đồng thế chấp này đã được Phòng Công chứng 6 Hà Nội công chứng ngày 11/6/2008 và được Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội chứng thực ngày 11/6/2008.
Ngân hàng đã giải ngân cho công ty B tổng số tiền là 3.066.191.933 đồng theo các hợp đồng tín dụng kèm theo khế ước nhận nợ. Tính đến ngày 05/10/2011, Công ty B còn nợ gốc và lãi của 03 hợp đồng là 4.368.570.503 đồng (trong đó nợ gốc là 2.943.600.000 đồng, nợ lãi là 1.424.970.503 đồng).
– Ngày 30/10/2009, Ngân hàng và Công ty B tiếp tục ký Hợp đồng tín dụng số 1702-LAV-200900583. Do đó, Ngân hàng cho Công ty B vay $180.000. Mục đích của khoản vay là để trả tiền cước cho lô hàng xuất khẩu; thời hạn vay 09 tháng; lãi suất vay 5,1%/năm; lãi suất chậm trả bằng 150%.
Bên B cung cấp bảo lãnh cho khoản vay thứ hai, bao gồm:
– Lô hàng gồm 19 xe ô tô tải thành phẩm trọng tải 1,75 tấn, mới 100% JMP, trị giá 2.778.750.000 đồng (do công ty B lắp ráp theo phương thức hàng xuất xưởng, Ngân hàng giữ giấy đăng kiểm (kiểm tra chất lượng xe xuất xưởng) . – Số dư tài khoản tiền gửi kỳ hạn 3 tháng trị giá 1.620.000.000 VND do Ngân hàng phát hành. Công ty B đã trả được một phần khoản vay, Ngân hàng đã giải ngân số tiền 1.620.000.000 đồng gửi vào tài khoản tiết kiệm của Công ty B, tương ứng với số nợ đã trả.
Ngân hàng đã giải ngân hết số tiền vay 180.000 USD cho Công ty B. Công ty B mới trả cho Ngân hàng số tiền gốc là 100.750 USD và số tiền lãi là 1.334,50 USD. Tính đến ngày 5 tháng 10 năm 2011, Công ty B có khoản nợ gốc là 79.205 USD và nợ lãi là 16.879,69 USD. Tổng số tiền gốc và tiền lãi là $96.120,69.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Ngân hàng xác nhận: đối với khoản vay 180.000 USD, Công ty B đã trả đủ nợ gốc; chỉ còn lại 5.392,81 đô la nợ lãi; bảo hành là 19 xe, hiện đã bán 18 chiếc, còn 01 chiếc; đề nghị tòa án xử lý chiếc ô tô còn lại để thu hồi số tiền còn nợ.
Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc:
– Công ty B trả gốc và lãi bằng đồng Việt Nam cho hợp đồng tín dụng số 1702-LAV-200800142, tức là 4.368.570.503 đồng;
– Công ty B trả $5.392,81 nợ lãi USD từ hợp đồng tín dụng số 1702-LAV-200900583.
Trong trường hợp Công ty B không trả hoặc trả không đủ để yêu cầu Tòa án phát mại tài sản thế chấp như sau:
– Quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại số 432 tổ 28, phường E, quận G, TP Hà Nội thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Trần Duyên H và bà Lưu Thị Minh N;
– 01 xe ô tô tải thành phẩm, trọng tải 1,75 tấn, JMP mới 100%, do Công ty B lắp ráp theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 219/2009/EIBHBT-CC ngày 29/10/2009.
Đại diện bị đơn là ông Trần Lưu H1 - Giám đốc điều hành Công ty B trình bày: Thừa nhận số nợ gốc, lãi và các khoản bảo lãnh như Ngân hàng trình bày, nhưng đề nghị Ngân hàng ủy quyền trả nợ theo từng đợt.
Anh Trần Lưu H2 thay mặt cho những người con, cháu của ông Trần Duyên H, bà Lưu Thị Minh N đang sống tại nhà, đất số 432 trình bày quan điểm của mình.
Tại Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 59/2013/KDTM-ST ngày 24-9-2013, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội quyết định:
– Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần A đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn B.
– Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn B phải thanh toán trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần A số tiền còn nợ của Hợp đồng tín dụng số 1702-LAV-200800142, bao gồm: nợ gốc là 2.813.600.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 2.080.977.381 đồng; nợ lãi quá hạn tính đến ngày 23-9-2013 là 1.036.575.586 đồng; tiền lãi phạt chậm trả tính đến ngày 23-9-2013 là 123.254.156 đồng; tổng cộng: 6.054.407.123 đồng.
– Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn B phải thanh toán trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần A số tiền còn nợ của Hợp đồng tín dụng số 1702-LAV-200800583, gồm số tiền nợ lãi quá hạn là 5.392,81 USD.
Trong trường hợp Công ty trách nhiệm hữu hạn B không trả nợ hoặc trả không đủ số tiền còn nợ của Hợp đồng tín dụng số 1702-LAV-200800142, thì Ngân hàng Thương mại cổ phần A có quyền yêu cầu Cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật là quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất tại thửa số 43, tờ bản đồ số 5I-I-33 (1996) theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở số 10107490390 do Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội cấp ngày 07-12-2000 cho ông Trần Duyên H và bà Lưu Thị Minh N tại địa chỉ số 432, tổ 28, phường E, quận G, thành phố Hà Nội để thu hồi nợ…
Trường hợp Công ty trách nhiệm hữu hạn B không trả nợ hoặc trả không đủ số tiền nợ của Hợp đồng tín dụng số 1702-LAV-200800583, thì Ngân hàng Thương mại cổ phần A có quyền yêu cầu Cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội xử lý tài sản bảo đảm là 01 chiếc xe ô tô tải, trọng tải 1,75 tấn hiệu JMP do Công ty trách nhiệm hữu hạn B lắp ráp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 219/2009/EIBHBT-CC ngày 29-10-2009 để thu hồi nợ.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm.
Tại Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 111/2014/KDTM-PT ngày 07-7-2014, Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội quyết định:
Giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm số 59/2012/KDTM-ST ngày 24-9-2013 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về Hợp đồng tín dụng, về các khoản tiền vay và tiền Công ty trách nhiệm hữu hạn B phải trả Ngân hàng Thương mại cổ phần A; hủy phần quyết định của Bản án sơ thẩm số 59/2013/KDTM-ST ngày 24-9-2013 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về phần hợp đồng thế chấp, bảo đảm của người thứ 3, cụ thể:
…Hủy phần quyết định về hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người thứ 3 (nhà đất số 432, tổ 28, phường E, quận G, thành phố Hà Nội) ký ngày 11-6-2008 tại Phòng công chứng số 6 thành phố Hà Nội và đăng ký tài sản bảo đảm tại Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hà Nội ngày 11-6-2008…
Giao hồ sơ vụ án về Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội để xác minh, thu thập chứng cứ và xét xử lại, xác định phần tài sản hợp pháp thuộc sở hữu của ông Trần Duyên H, bà Lưu Thị Minh N làm tài sản thế chấp bảo đảm cho Công ty trách nhiệm hữu hạn B đối với khoản tiền vay ở Ngân hàng Thương mại cổ phần A theo Hợp đồng tín dụng số 1702-LAV-200800142 ngày 16-6-2008.
Giải pháp pháp lý: Trường hợp này, Tòa án phải xác định hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật.
2.2. Án lệ số 15/2017/AL về công nhận thỏa thuận miệng của các đương sự trong việc chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp:
– Tình huống án lệ:
Các đương sự tự nguyện thỏa thuận miệng với nhau về việc chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp trước ngày 15-10-1993; phần đất đã được đăng ký, kê khai diện tích đất đã đổi và được ghi nhận tại sổ địa chính; đã trực tiếp canh tác, sử dụng ổn định, liên tục, lâu dài. Tóm tắt nội dung vụ án:
Người khiếu nại: Bà Trịnh Thị C.
Bị can: Anh Nguyễn Minh T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trương Thị H2.
Ngày khởi kiện: 02/05/2006
Nguyên đơn trình bày: Năm 1962, gia đình bà Trịnh Thị C được chia 517 m2 tại thửa số 28, tờ bản đồ số 4 khu K là đất canh tác 5%. Khu đất này giáp nhà ông Nguyễn Minh T (bị đơn). Theo bản đồ năm 1987, mảnh đất này thuộc 2 thửa 158 và 159. Đầu năm 1992, gia đình ông Nguyễn Minh T yêu cầu bà Trịnh Thị C tạm đổi 5% đất lấy đất chia theo hợp đồng. 10 d diện tích 10. Diện tích 540m2 tại khu ruộng B của gia đình ông Nguyễn Minh T để tiện canh tác. Hai bên thỏa thuận miệng, không chuẩn bị hồ sơ, tạm thời thay đổi nếu cần, báo trước 1 tuần sẽ thay đổi. Năm 1994, do nhu cầu sản xuất, gia đình bà Trịnh Thị C yêu cầu trả lại đất nhưng gia đình ông Nguyễn Minh T không chấp nhận. Bà Trịnh Thị C có khiếu nại lên xã, huyện nhưng không được giải quyết dứt điểm. Vì vậy, bà Trịnh Thị C yêu cầu Tòa án buộc gia đình ông Nguyễn Minh T trả lại đất cho gia đình ông theo quy định của pháp luật.
Bị đơn trình bày: Theo hợp đồng khoán 10, Hợp tác xã D triển khai giao đất cho các hộ dân vào đầu năm 1991. Khoảng tháng 2/1992, gia đình ông Nguyễn Minh T và gia đình bà Trịnh Thị C có ký kết bằng miệng. thỏa thuận với trao đổi đất theo chỉ định của người nộp đơn. Khi đó bà Trịnh Thị C nói đổi đất tại khu B, ông Nguyễn Minh T nói đổi đất cho gia đình bà Trịnh Thị C cũng như diện tích mà gia đình ông T. Nguyễn Minh T đã sử dụng. Cuối năm 1994, HTX D làm văn bản giao đất cho các hộ dân. Văn bản nêu rõ, ông Nguyễn Minh T và bà Trịnh Thị C đã hoán đổi đất cho nhau. Gia đình ông Nguyễn Minh T trực tiếp canh tác từ năm 1992 đến nay. Vì vậy, ông Nguyễn Minh T không chấp nhận yêu cầu bồi thường đất của nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trương Thị H2 trình bày: Nguồn gốc đất khu K là của cha mẹ bà và được cấp từ năm 1962. Sau khi cha bà mất, mảnh đất này đứng tên bà M. A. Năm 1990, 1991 chia cho bà 100m2. Việc bà Trịnh Thị C đổi hết đất cho ông Nguyễn Minh T. Nay bà C đòi lại là không đúng.
Tại Bản án sơ thẩm số 17/2008/DSST ngày 20/8/2008, Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai đã tuyên:
- Tuyên bố giao dịch chuyển đổi đất dân sự giữa hộ bà Trịnh Thị C với hộ ông Nguyễn Minh T vào tháng 02 năm 1992 là vô hiệu.
Buộc hộ ông Nguyễn Minh T trả lại cho hộ bà Trịnh Thị C 5% đất với diện tích 517m2.
Buộc hộ bà Trịnh Thị C trả lại cho hộ ông Nguyễn Minh T phần đất nhận khoán 10, diện tích 540m2.
- Buộc bà Trịnh Thị C phải trả tiền công cải tạo đất bao gồm tiền đào ao, tôn, cây trồng trên đất và tiền di chuyển mồ mả tổng cộng là 112.817.000 đồng cho ông Nguyễn Minh T. 3. Buộc ông Nguyễn Minh Tr và bà Bùi Thanh H dỡ bỏ toàn bộ mặt bằng căn nhà cấp 4 rộng 75,28m2 xây dựng trên thửa đất 517m2 tại thửa số 28, sơ đồ số 4, bản đồ địa chính năm l năm 1990 trả lại đất cho hộ bà Trịnh Thị C. Ông Nguyễn Minh Tr, bà Bùi Thanh H không được bồi thường diện tích nhà bị phá dỡ.
Ông Nguyễn Minh T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Quyết định của tòa án:
Hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm số 111/2008/DSPT ngày 27/11/2008 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2008/DSST ngày 20/8/2008 của Tòa án nhân dân Hoàng Mai Hà Nội trong vụ án “Tranh chấp hợp đồng hoán đổi đất đai” giữa nguyên đơn là bà Trịnh Thị C và bị đơn là ông Nguyễn Minh T. Đưa vụ án ra Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội để xét xử lại theo quy định của pháp luật.
- Giải pháp pháp lý:
Trong trường hợp này, Tòa án phải công nhận sự thỏa thuận bằng miệng của các bên về việc chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp để xác định các bên có quyền sử dụng diện tích chuyển đổi.
2.3. Án lệ số 33/2020/AL về trường hợp cá nhân được Nhà nước giao đất không sử dụng mà giao cho người khác quản lý, sử dụng ổn định lâu dài :
- Trường hợp trước:
Cá nhân được nhà nước giao đất nhưng không sử dụng mà giao cho người khác quản lý, sử dụng ổn định lâu dài kể từ khi được giao đất. Trong quá trình chiếm đất, người này đã chỉnh trang đất, làm chuồng trại, đăng ký kê khai quyền sử dụng nhưng người được nhượng đất không có ý kiến.
- Nội dung vụ việc:
Nguyên đơn: Bà Bùi Thị P, ông Lê Ngọc T1 và bà Lê Thị Thanh X do bà Bùi Thị P làm đại diện. Bị đơn: Ông Lê Ngọc T2.
Nguyên đơn cho biết:
Ông Lê Ngọc U và bà Bùi Thị T quê ở thôn D, xã D1, huyện P, tỉnh Hưng Yên. Hai công nhân, sống và chết ở tỉnh Lạng Sơn. Ông U và ông T có một người con duy nhất là ông Lê Ngọc H, là chồng của bà Bùi Thị P. Ông U có mảnh đất diện tích 1.079m2 tại thôn D, xã D1, huyện P, tỉnh Hưng Yên. Năm 1976, ông H về quê cất nhà cấp 3 mái bằng, gác xép và toàn bộ công trình phụ gồm bếp, giếng nước, nhà tắm, nhà vệ sinh trên phần đất trên cho ông U và ông T ở. .nghỉ hưu về quê. Ông U và ông T ở ngôi nhà này một thời gian rồi chuyển về quê ở tại nhà, đất của bố mẹ ông T. Năm 1977, ông Lê Ngọc C1 là em ruột ông U. , người mượn nhà, đất cho con trai ông là ông Lê Ngọc T2 ở nhờ.
Ngày 22/01/1994 ông T chết và ngày 20/12/1995 ông U chết không để lại di chúc (cả hai đều chết tại Lạng Sơn). Năm 2008, ông Lê Ngọc T2 lên Lạng Sơn gặp ông H và yêu cầu viết giấy ủy quyền cho ông T2 nhận tiền đền bù do nhà nước thu hồi đất để mở đường 38B. Tháng 6/2009 ông H chết không để lại di chúc nhưng bảo mẹ con bà P về quê đòi lại nhà và đất cho ông T2.
Bà P và các con yêu cầu gia đình ông T2 trả lại toàn bộ nhà, đất và số tiền bồi thường 398.638.000 đồng khi nhà nước thu hồi đất năm 2008.
Bị cáo nói:
Phần đất gia đình anh quản lý, khai thác là do bố anh là ông Lê Ngọc C1 thông qua ông Lê Ngọc U (là ông C1) đứng tên thay cho anh từ năm 1974 nhưng thực tế bố anh là người trực tiếp đứng tên. nhận đất. Theo bản vẽ địa chính xã D1 lập tháng 12/1998, tại tờ bản đồ số 31, thửa đất ông T2 quản lý khai thác gồm 04 thửa: Thửa số 269 (T) diện tích 574,4m2; đất 251 (ao) diện tích 261,2m2; thửa đất số 286 (ao) diện tích 152,9 m2; thửa số 301 có diện tích 149,1m2 là đất hành lang đường 38B. Tổng diện tích phân lô và hành lang là 1.177,6 m2. Theo sổ kiểm kê lập năm 1998, tại trang 86 và 87, các bưu kiện trên đều mang tên người điều hành là Lê Ngọc T2.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2015/DS-ST ngày 31/3/2015, Tòa án nhân dân huyện Phù Cừ quyết định:
- Chấp nhận một phần yêu cầu hợp pháp của bà Lê Thị Thanh X và ông Lê Ngọc T. Đối với bà Bùi Thị P không có quyền lợi liên quan đến việc thừa kế của ông Lê Ngọc U và ông Bùi Thị T.
- Tặng cho ông Lê Ngọc T2 và bà V quản lý vận hành theo số liệu đo đạc thực tế tại thời điểm ngày 8/8/2014 là 990m2; trong đó: lô thổ cư 816m2; Diện tích đất ao là 174m2 (có sơ đồ kèm theo), ông Lê Ngọc T2 và bà Đoàn Thị V phải đăng ký quyền sử dụng diện tích đất được giao với cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về đất đai.
Nhà cửa, công trình xây dựng, cây cối hoa màu nằm trên đất là tài sản của ông T2, bà V.
- Buộc ông Lê Ngọc T2 và bà Đoàn Thị V trả cho bà Lê Thị Thanh X và ông Lê Ngọc T1 giá trị di sản mà bà X và ông T1 được hưởng từ ông Lê Ngọc U và ông Lê Ông Bùi Thị.T số tiền là 191.864.200 đồng (một trăm chín mươi mốt triệu tám trăm sáu mươi tư nghìn hai trăm đồng).
Ngoài ra, tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về phần án phí và quyền kháng cáo của các bên đương sự. Ngày 15/4/2015, bị đơn Lê Ngọc T2 kháng cáo một phần bản án.
Quyết định của tòa án:
- Hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm số 25/2017/DS-PT ngày 28/9/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên trong vụ án “Khởi kiện tài sản, đất đai và tiền bồi thường, cấp dưỡng” khi Nhà nước thu hồi tài sản đất” giữa người làm đơn là bà Bùi Thị P (còn gọi là Bùi Thị Hương P), ông Lê Ngọc T1, bà Lê Thị Thanh X và bị đơn là ông Lê Ngọc T2; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Vũ Thị S, bà Đoàn Thị V, ông Lê Ngọc C2, bà Trần Thị N, bà Lê Thị D1 và bà Lê Thị D2.
- Đưa vụ án ra Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử lại theo quy định của pháp luật. - Giải pháp pháp lý:
Trong trường hợp này, Tòa án không chấp nhận yêu cầu thu hồi quyền sử dụng đất.
Nội dung bài viết:
Bình luận