1. Bản án 17/2019/HNGĐ-PT ngày 25/6/2019 về tranh chấp tài sản sau khi ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngành tư pháp: Tòa án nhân dân cấp cao tại TP.HCM
- Trích nội dung: “Cấp xét xử xác định là quan hệ hôn nhân gia đình về việc: “Tranh chấp tài sản chung sau khi ly hôn”, ông Phan Văn K là đương sự người nước ngoài, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Tiến Giang, được quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.”
Bản án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài
2. Bản án 28/2018/HNGĐ-PT ngày 21/09/2018 về việc thuận tình ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Tư pháp: Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương
- Nội dung trích dẫn: “Bà B sang Đài Loan từ năm 2003 chưa về Việt Nam và hiện đang làm việc tại Đài Loan, Trung Quốc nên tại thời điểm Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang thụ lý, giải quyết vụ án, bà B đang làm việc ở Đài Loan, thuộc một trong các trường hợp đương sự đang ở nước ngoài. Theo quy định tại khoản 3 điều 35, điểm c khoản 1 điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp tỉnh. , mà ở đây là thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.”
3. Bản án 22/2019/HNGĐ-PT ngày 22/11/2019 về tranh chấp chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Tư pháp: Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam
- Trích dẫn nội dung: “Từ năm 2013, ông Terry Wallace T mang quốc tịch Australia, nhiều lần đến Việt Nam; Khoảng tháng 12/2014, anh Terry Wallace T và chị Trương Thị P gặp nhau và nảy sinh tình cảm. Năm 2016, bà Trương Thị P đề nghị cho ông Terry Wallace T được ở riêng tại Việt Nam và được ông Terry Wallace T chấp nhận. Do ông Terry Wallace T là người nước ngoài nên không được ghi tên ông trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Do tin tưởng bà Trương Thị P, ông Terry Wallace T đã nhiều lần chu cấp tiền cho bà Trương Thị P để mua đất, xây nhà.
4. Quyết định 01/2018/HNGĐ-ST ngày 28/08/2018 về việc ly hôn có yếu tố nước ngoài
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Tư pháp: Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang
- Trích dẫn nội dung: “Bà Trần Thị P đã khởi kiện yêu cầu Tòa án cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Đức A, hiện bà Trần Thị P đang sinh sống tại Cộng hòa Séc nên đây là vụ án hôn nhân gia đình trên ly hôn có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang theo thủ tục sơ thẩm quy định tại khoản 3 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.
5. Bán Bản án số 18/2018/HNGĐ-ST ngày 10/4/2018 về việc thuận tình ly hôn có yếu tố nước ngoài
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Tư pháp: Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang
- Trích nội dung: “Tại phiên tòa xét xử, chị Th vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh VŨ QUỐC M, vì sau khi kết hôn, vợ chồng chị chỉ chung sống hạnh phúc với nhau một thời gian ngắn, sau đó vợ chồng chị Th. vợ hay xảy ra mâu thuẫn, tranh cãi, bất đồng trong cuộc sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung nên tôi nhận thấy cuộc hôn nhân này không thể kéo dài.
6. Bản án 32/2018/HNGĐ-ST ngày 18/05/2018 về việc xin ly hôn có yếu tố nước ngoài
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Tư pháp: Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang
- Nội dung trích dẫn: “Do bà được ông Kang H bảo lãnh về sống tại nơi ở của ông Kang H chỉ được 9 ngày, giữa bà và ông Kang H có bất đồng trong ngôn ngữ và sinh hoạt nên bà đã về Việt Nam và kết thúc cuộc hôn nhân với ông Kang H. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị M và anh Kang H không được bảo đảm theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 về quan hệ vợ chồng.”
7. Bản án 48/2019/HNGĐ-ST ngày 01/4/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngành tư pháp: Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng
- Trích nội dung: “Cuộc sống chung giữa bà Trần Thị C và ông Nguyễn Trọng Kh có mâu thuẫn do những bất đồng trong cuộc sống. Mâu thuẫn của họ đã được gia đình khuyên giải, bản thân bà Trần Thị C và ông Nguyễn Trọng Kh cũng đã cố gắng khắc phục nhưng không có kết quả. Hiện tại giữa chị Trần Thị C và anh Nguyễn Trọng Kh mỗi người một nước, không còn quan tâm đến nhau nữa”.
8. Bản án 74/2018/HNGĐ-ST ngày 30/11/2018 về việc yêu cầu ly hôn có yếu tố nước ngoài
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Tư pháp: Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang
- Trích nội dung: “Nguyên nhân dẫn đến ly hôn là do quen nhau qua mạng xã hội được một thời gian ngắn, sau 1 tháng cưới nhau thì anh K. J. H. trở về Hàn Quốc, vợ chồng liên lạc với nhau được 1 tháng thì nảy sinh mâu thuẫn do bất đồng ngôn ngữ, quan điểm sống, không tìm được sự tiến bộ chung và từ đó không liên lạc với nhau nữa. .”
Nội dung bài viết:
Bình luận