Tổng hợp bản án tội cản trờ giao thông đường bộ

Bản án giao thông đường bộ

Bản án giao thông đường bộ

MỤC LỤC

Tổng hợp 12 bản án về Tội cản trở giao thông đường bộ

STT

NỘI DUNG

SỐ TRANG

01

Bản án số 02/2021/HSST ngày 05/01/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội


Sau khi Công ty Trung Kiên ký hợp đồng với Công ty cổ phần thiết bị điện tử Hyundai Thành Công Toàn cầu, bà Vân (Giám đốc Công ty Trung Kiên) đã bổ nhiệm ông Nguyễn Đình Kiên làm quản lý xe nâng để thực hiện hợp đồng hiện tại. Sau đó, anh Kiên giao cho anh Nguyễn Đình Đ điều khiển xe nâng.
Ngày 28/4/2019, D lái xe nâng hạ thiết bị đỗ tự động của xe tải xuống vị trí lắp ráp của dự án. Do kiện hàng có chiều dài khoảng 04m, rộng 02m và cao 01m nên để nâng kiện hàng lên xe nâng biển kiểm soát 29LA-2175 do bị cáo D điều khiển phải đỗ chiếm 2/3 mặt đường Yên Phụ, mặt tiền The. đầu xe nâng quay chéo về bên phải đường Yên Phụ hướng đường Thanh Niên về cầu Long Biên, đầu xe nâng quay chéo về bên trái đường.
Trong quá trình đậu xe để chuyển hàng, bị cáo D không đặt biển cảnh báo hạn chế tốc độ, không sử dụng đèn cảnh báo nguy hiểm, không sử dụng còi. Trong khi đó, ông Marck Barry Lockett điều khiển xe máy với tốc độ cao, không nhìn thấy nên đã va chạm với em gái Carly Anne Smith và ngã xuống đường. Bị cáo D chứng kiến ​​vụ tai nạn và bỏ đi. Sau khi bình tĩnh lại, anh ta quay lại làm việc với cảnh sát. Hậu quả của vụ tai nạn là ông Marck Barry Lockett tử vong, em gái Carly Anne Smith bị thương nặng, sau khi được sơ cứu đã qua đời.
Phán quyết của tòa án:

Hành vi của bị cáo D là nguy hiểm cho xã hội và vi phạm khoản 3, mục 8, khoản 3 và điều 57 Luật giao thông đường bộ. Bị cáo D sử dụng trái phép lòng đường, lề đường, vỉa hè làm chết 2 người, gây rối trật tự giao thông đường bộ, gây mất an toàn, trật tự, an toàn xã hội, gây bức xúc trong nhân dân. Tòa án cấp sơ thẩm xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo: Bị cáo và đại diện Công ty Trung Kiên bồi thường toàn bộ hậu quả là 530.000.000.000.000 đồng, người bị hại có lỗi do điều khiển xe máy không đúng tốc độ quy định và đã uống rượu bia khi điều khiển phương tiện. xe máy theo điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS.
Tòa tuyên: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình D 15 (mười lăm) tháng tù

01 – 13

02

Bản án số 84/2020/HS-ST ngày 28/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình

 

Gia đình bà Nguyễn Thị Lan A đang xây nhà thì liên hệ với ông T để mua cát. Khoảng 19h cùng ngày, anh T điều khiển xe công nông chở 2,5 m3 cát. Mặc dù biết rõ đường 479 là tỉnh lộ, nhiều phương tiện lưu thông qua lại, có thể gây nguy hiểm đến tính mạng người đi đường nhưng chị Nguyễn Thị Lan A tin rằng sẽ không xảy ra tai nạn nên chị Lan A đã ra lệnh cho anh T đậu xe chở cát tại đường. vị trí ven đường 479. Sau khi đổ cát xong, chị Lan Anh buộc bao xi măng trắng có đầu que và đầu que đặt lên trên đống cát để cảnh báo người qua lại.
Khoảng 20h ngày 13/7/2020, do trời tối, chị H, sinh năm 1960, đang đi xe máy không nhìn thấy đống cát, không kịp chuyển hướng đã lao thẳng vào chân đống cát. cát, bị ngã đập đầu xuống đường, tử vong tại chỗ. Phán quyết của tòa án:

Hành vi nêu trên của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “cản trở giao thông” trong trường hợp “làm chết người”. Hành vi phạm tội của bị cáo đã vi phạm trật tự an toàn giao thông, xâm hại tính mạng người khác mặc dù không muốn hậu quả xảy ra. Bị cáo Lan A có nhân thân tốt, có tình tiết giảm nhẹ. Hội đồng xét xử kết luận bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, chấp hành giấy triệu tập của cơ quan tố tụng và không có dấu hiệu bỏ trốn. Xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để bị cáo tự cải tạo tại địa phương là đủ. Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm nhận định:

Bị cáo Nguyễn Thị Lan Anh phạm tội “Cản trở giao thông” và tuyên phạt bị cáo 9 tháng cải tạo không giam giữ. Trích 0,5% số tiền bị cáo A thu được trong thời gian chấp hành án để sung công quỹ nhà nước.

14 – 21

03

Bản án số 15/2020/HS-ST ngày 10/03/2020 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang

 

Tối ngày 06/7/2019, bị cáo Quách Văn C là người điều khiển xe ô tô BKS 98C-172.71 khi đi đến Km 3 80, Đường bộ 290, thuộc địa phận thôn N, xã H, huyện L. bị hư hỏng. Trong lúc chờ vá lốp, C đã rửa cốc hút bê tông của xe khiến bê tông rơi vãi ra đường nhưng C không rửa sạch. Ngày 12/7/2019, anh Tô Văn H đi xe máy BKS 98E1-020.97 tông vào đoạn bê tông trên. Hậu quả, anh H ngã xuống đường bị thương dẫn đến tử vong.
Phán quyết của tòa án:

Hành vi của bị cáo C đã cấu thành tội “cản trở giao thông”. Xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, nên áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo được hưởng án treo cải tạo, giáo dục tại địa phương để răn đe, giáo dục, phòng ngừa. Phòng ngừa.
Đối với anh H, điều khiển xe máy hiệu Honda, có giấy phép lái xe phù hợp, đi đúng phần đường theo chiều đi của mình, không mắc lỗi khi tham gia giao thông. Đối với anh Nguyễn Văn Dũng, người ngồi trên xe ô tô BKS 98C - 172.71 do Quách Văn C điều khiển đã rửa xe làm rơi, rơi vãi cát sỏi gây tai nạn. Khi xe bị thủng lốp, anh D đang ngồi trong cabin, không tham gia cùng C trong việc rửa máng và bệ hút bê tông nên không xem xét xử lý.
Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm nhận định:

Xử phạt 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Giao bị cáo Quách Văn C cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện L, tỉnh Hòa Bình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

22 – 30

04

Bản án số 85/2019/HSST ngày 17/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai

 

Ngày 16/12/2018, Nguyễn Thành L điều khiển xe ô tô đầu kéo sơ mi rơ mooc đi từ khu du lịch S, quận Y, TP. Hồ Chí Minh đến Khu công nghiệp Z, huyện N, tỉnh Đồng Nai để nhận hàng. Trên đường đi, anh K đã cho xe đậu sát vào phần đường bên phải nhưng không cắm cờ hay cảnh báo cho những người điều khiển phương tiện khác. Sau đó, L cởi chiếc áo móc này ra và tiếp tục kéo chiếc áo móc khác về hướng thị xã B, tỉnh Đồng Nai. Khoảng 20 giờ 45 phút cùng ngày, anh T đang điều khiển xe máy đi trên đoạn đường mà L đã đỗ thì móc đầu kéo va vào đuôi xe gây tai nạn khiến anh T bị thương nặng và tử vong. Phán quyết của tòa án:

Hành vi của bị cáo L là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo đã không chấp hành pháp luật dẫn đến tai nạn giao thông gây hậu quả chết người. Sau khi vi phạm, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, người bị hại bãi nại và có đơn yêu cầu bị cáo bồi thường… thì người bị hại cũng có một phần lỗi.
Xét nguyên nhân xảy ra tai nạn, người bị hại có một phần lỗi, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt, nơi cư trú ổn định, xét thấy không cần thiết phải cách ly với xã hội nên cho hưởng án treo. .
Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm nhận định:

Tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thành L 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm, thời hạn tính từ ngày lập án.

31 – 36

05

Bản án số 08/2019/HSST ngày 21/03/2019 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau

 

Ngày 08/12/2018, Bị cáo D tấp xe vào, ném tôn khiến phần trên của tôn lấn ra hơn so với mặt đường, không có đèn tín hiệu giao thông, không có đèn tín hiệu giao thông, không có người gác chắn theo quy định quy định tại khoản 1 mục 19 và khoản 2. Điều 20 Luật Giao thông đường bộ khiến chị Nguyễn Thị Mỹ Nh đi xe máy biển số 95D1-219.24 va quẹt vào đầu, ngã xuống đường dẫn đến tử vong.
Phán quyết của tòa án:

Xét về tính chất, mức độ của hành vi cho thấy, ngoài việc gây cản trở giao thông, gây nguy hiểm đến tính mạng của người khác, bị cáo còn gây dư luận xấu trong xã hội, gây tâm lý sợ hãi cho người đi đường, gây mất an ninh, trật tự xã hội. và an ninh trật tự tại địa phương.
Tại phiên tòa, ông G đại diện cho người thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại yêu cầu rút lại số tiền bồi thường là tiền vật liệu tang lễ, tiền công thợ khắc và tiền mua thức ăn cho đám tang là 63.500.000 đồng. . Đồng thời, yêu cầu bổ sung yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần bằng tiền mua đồ dùng, người làm đám tang và đồ ăn trong đám tang. Việc thay đổi yêu cầu bồi thường như trên, bị đơn cũng đồng ý và đồng ý bồi thường cho bị đơn phần còn lại là 51.500.000 đồng. Xét thấy bị cáo D và người đại diện hàng thừa kế thứ nhất của người bị hại đã thống nhất việc bồi thường như trên là tự nguyện và phù hợp với quy định tại các điều 584, 585, 591 của Bộ luật dân sự.
Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm nhận định:

Bị can Nguyễn Chí D phạm tội “Cản trở giao thông đường bộ”. Tuyên phạt bị cáo 02 năm cải tạo không giam giữ.

37 – 42

06

Bản án số 06/2018/HS-ST ngày 02/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum

 

Ngày 24/4/2018, Nguyễn Văn T cùng một số người như: Phạm Thị G, Phạm Văn S, Phạm Văn T, Phạm Văn L, Đinh Ngọc H điều khiển xe ô tô vận chuyển cây keo tại rẫy cho ông A L. xe chở keo lăn bánh một đoạn thì mắc kẹt. T tìm đến anh D kêu cứu, anh D gọi A N lái máy cày đến cứu. A N dỡ cáp ở đầu xe, T kéo cáp đến chỗ ô tô đỗ rồi móc cáp vào đầu xe để kéo. Kéo được 10 thước thì xe chìm nên T dừng kéo để T và H đào đất chỗ bánh xe bị lún. Lúc này, cáp được căng giữa đường nên nếu có ô tô chạy qua, A N và mọi người hô hoán tín hiệu. A L chạy xe máy chở A P với tốc độ cao, mặc dù đã nhận tín hiệu khi sang đường nhưng cả hai không phát hiện ra sợi dây thừng kéo ngang đường. Vì vậy, AP đã lao vào kéo khóa suýt gãy cổ, ngã xuống đường và gãy đốt sống cổ C3 - C3 khiến cả hai tử vong tại chỗ. T đã đến Công an huyện K trình báo sự việc.
Phán quyết của tòa án:

Các bị cáo dùng xe đầu kéo thả dây cáp căng ngang đường để kéo những ô tô không có tín hiệu cảnh báo ở hai bên đường để cảnh báo cho người đi đường. Xét tính chất, mức độ hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã làm mất trật tự, an toàn của hoạt động giao thông đường bộ và là nguyên nhân trực tiếp gây ra vụ tai nạn làm 2 người chết, dẫn đến hậu quả rất nghiêm trọng. Cả hai bị cáo đều có tình tiết giảm nhẹ, hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo với cộng đồng.
Các bị cáo và người đại diện hợp pháp của người bị hại A P, A L đã đồng ý bồi thường.
Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm nhận định:

Bị cáo Nguyễn Văn T và A N phạm tội “cản trở giao thông đường bộ”. Tuyên phạt bị cáo T 27 tháng tù, cho hưởng án treo. Bị cáo A N 24 tháng tù, cho hưởng án treo.

43 – 49

07

Bản án số 83/2018/HS-ST ngày 01/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh

 

Ngày 17/01/2018, bị cáo D điều khiển xe ô tô đầu kéo sơ mi rơ moóc đi hướng Khu công nghiệp T, tỉnh Tây Ninh thì dừng xe, dỡ sơ mi rơ moóc đặt trên đường rồi điều khiển xe đi nơi khác. Đến 22h30 cùng ngày, anh H đi xe máy chở anh D phía sau đã đâm vào phía sau bên trái xe đầu kéo làm anh H và anh D tử vong.
Tòa án quan sát thấy:

Bị cáo D đã tự ý dựng hàng rào sơ mi rơ mooc chắn ngang đường gây tai nạn trái quy định tại khoản 2 Điều 8 Luật giao thông đường bộ dẫn đến ông D tử vong. D và H. Vì vậy, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Trần Chiêu D phạm tội “Cản trở giao thông” theo Điều 261 BLHS.
Xét bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng cải tạo tốt nên không buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho phép bị cáo được hưởng án treo và cho phép bị cáo. được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng đến an ninh, trật tự an toàn xã hội. Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm nhận định:

Tuyên phạt bị cáo D 2 năm tù, cho hưởng án treo về tội “Cản trở giao thông đường bộ”. Cần lưu ý rằng D đã bồi thường cho người đại diện theo pháp luật của anh D là 163.000.000 đồng, người đại diện theo pháp luật của anh H là 140.000.000 đồng.

50 – 55

08

Bản án số 99/2018/HS-ST ngày 24/07/2018 của Tòa án nhân dân thành phố U, tỉnh Quảng Ninh

 

Trần Sơn D làm lái xe thuê cho Công ty TNHH vận tải thương mại LP. Khoảng 16h ngày 03/2/2018, D điều khiển xe ô tô đầu kéo, biển kiểm soát 15C – 125.35 kéo sơ mi rơ mooc container chưa vôi cục giao đến cảng Hải Phòng. Khoảng 20h30’, D điều khiển xe đến Km 06+250, Quốc lộ 10 thuộc thành phố U thì xe bị tắt, hệ thống lái bó cứng. Trong lúc sửa chữa sự cố, D có để vật cảnh báo (cục gỗ hình chữ nhật) cho người đi đường nên không kiểm tra lại xem đèn cảnh báo có bật sáng không, rồi vẫy xe khác đi nhờ đến trạm xăng dầu. Trong khi đó, anh Nguyễn Đắc L điều khiển xe máy từ thành phố U đến thành phố Hải Phòng. Khi đi ngang qua đoạn xe ô tô đầu kéo của anh D đã bị va phải cục gỗ chữ nhật, không phát quang, gây tai nạn. Anh L ngã sấp xuống sau đuôi sơ mi rơ moóoc dẫn đến gãy cổ, tử vong tại chỗ.

Nhận định của Tòa án:

Hành vi phạm tội của bị cáo D là nguy hiểm cho xã hội vì hành vi đó đã xâm phạm đến sự an toàn của hoạt động giao thông đường bộ cũng như an toàn về tính mạng sức khỏe và tài sản của người khác.

Bị cáo là người có nhân thân xấu, năm 1998, 1999, 2000, 2008 đã bị xét xử về các tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, “Trộm cắp tài sản công dân”, “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Về tình tiết giảm nhẹ, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa lời khai của bị cáo về cơ bản là thành khẩn, ăn năn hối cải, bị cáo tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, sự việc xảy ra cũng có lỗi một phần của bị hại do có sử dụng nồng độ ethanol (cồn) trong máu cao hơn mức cho phép theo quy định của pháp luật, đại diện hợp pháp của bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Hội đồng xét xử thấy căn cứ vào nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự… thấy cần thiết xử phạt mức án tương xứng với hành vi của bị cáo gây ra, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm tuyên:

Bị cáo Trần Sơn D phạm tội: “Cản trở giao thông đường bộ”. Xử phạt bị cáo 06 (sáu) tháng tù, được trừ đi số ngày bị tạm giữ.

56 – 63

09

Bản án số 23/2018/HS-ST ngày 02/4/2018 Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk

 

Ngày 20/10/2017, Đỗ Xuân T điều khiển xe máy kéo chở gỗ keo đi theo hướng rẫy buôn K, xã E ra đường liên xã. Khi đến gần khu vực ngã ba thuộc Buôn K, xã E, huyện K thì xe bị lầy nên T kéo dây cáp bằng kim loại ngang qua đường để kéo xe lên. Lúc này anh J điều khiển xe mô tô biển số 47N8-1135 chở vợ là chị R đi theo hướng huyện K vào trung tâm xã E vướng vào dây cáp ngã xuống đường. Hậu quả làm anh J bị thương được đưa đi điều trị tại Bệnh viện, đến ngày 24/10/2017 thì tử vong, chị R không bị thương tích.

Nhận định của Tòa án:

HĐXX đã có đủ cơ sở cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Đỗ Xuân T đã vi phạm khoản 2 Điều 8 Luật giao thông đường bộ nên phạm tội “Cản trở giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 203 BLHS năm 1999. Xét bị cáo có nhân thân tốt, có nơi ở ổn định, người bị hại đề nghị HĐXX áp dụng mức án thấp nhất, đồng thời cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo hòa nhập với cộng đồng. Đây cũng là lỗi ngoài ý muốn với bị cáo. HĐXX áp dụng khoản 1 khoản 2 điều 60 BLHS năm 1999 cho bị cáo tự cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tác dụng để răn đe bị cáo, đồng thời thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

Trong quá trình điều tra bị cáo Đỗ Xuân T đã bồi thường 137.500.000 đồng tiền chi phí mai táng, tổn thất tinh thần và các chi phí hợp lý khác cho gia đình anh J là đảm bảo đúng quy định pháp luật, HĐXX ghi nhận sự tự nguyện này, người bị hại cũng không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập giải quyết.

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Xuân T phạm tội: “Cản trở giao thông đường bộ”. Xử phạt bị cáo 09 tháng (Chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo.

64 – 69

10

Bản án số 16/2018/HSST ngày 30/03/2018 của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang

 

Ngày 09/11/2016, anh Trương Duy L, Nguyễn Văn T1, Trần Trung N, Phạm Văn T mặc thường phục tham gia xử lý vụ việc tụ tập chơi tài xỉu. Sau khi phát hiện tụ điểm, T2 và N bắt giữ Nguyễn Bửu Đ nhưng Đ vùng vẫy chạy thoát, những người còn lại cũng bỏ chạy. Đ điều khiển mô tô chở Ng đến khu vực thánh đường Chăm thì gặp T điều khiển xe chở N. Hai bên xảy ra xây xát, đánh nhau. T điều khiển xe mô tô biển số 67F7-5170 chạy hướng về Châu Đốc cách 54m30 thì dừng lại bên lề phải, 2 tay nắm hai tay cầm lái của xe dẫn xe ngang đường cản đường chạy của Đ. Đ điều khiển xe chở Ng chạy đến va chạm vào phần đầu xe mô tô của T, Đ và Ng bị ngã xuống đường và ngay lúc đó, lực lượng Công an xã đưa Đ đến Bệnh viện đa khoa khu vực tỉnh tại thành phố Châu Đốc cấp cứu. Sau đó, gia đình chuyển Đ đến Bệnh viện Chợ Rẫy – thành phố Hồ Chí Minh điều trị, đến ngày 11/11/2016 Đ tử vong do chấn thương sọ não dập phù não nặng. Ng bị thương tích nhẹ, điều trị tại gia đình.

Nhận định của Tòa án:

Phạm Văn T đã có hành vi dùng xe mô tô biển kiểm soát 67F7 – 5170 chắn ngang đường làm cho Nguyễn Bửu Đ điều khiển xe mô tô va chạm té xuống đường dẫn đến tử vong.

Bị cáo T đã mặc thường phục khi chặn đầu xe của Đ là trái quy định của pháp luật quy định tại Khoản 4 Điều 7 Thông tư số 47/2011/TT-BCA. bị cáo T thực hiện hành vi chặn xe không mặc đồng phục Công an xã là vi phạm quy định của ngành Công an, bị cáo tự ý chặn xe mục đích muốn bị hại dừng xe nhưng không được ý kiến chỉ đạo của cấp trên, do đó không xem xét bị cáo là đang thi hành nhiệm vụ, hành vi của bị cáo đối với hành vi của bị hại mặc dù bị hại là đối tượng mà Công an xã cần phải xử lý theo quy định, việc chặn xe dẫn đến chết người là vượt quá giới hạn cần thiết, bị cáo không mong muốn hậu quả xảy ra đối với bị hại Đ nên được xem là lỗi vô ý do cẩu thả.

Trong vụ án này cần phải rút kinh nghiệm và xử lý nghiêm các ông bà có tên trong thực hiện nhiệm vụ Công an xã Đa Phước ngày 09/11/2016 trong đó có ông T1 là Phó trưởng công an xã đã không quan tâm chỉ đạo cấp dưới thực hiện nhiệm vụ công vụ đúng theo quy định, dẫn đến cấp dưới hành động trái pháp luật gây tai nạn chết người. Đối với ông L và ông S là người đã đưa xe ra chặn Đ cũng là vi phạm, không tuân thủ quy định về trang phục trong thực hiện nhiệm vụ, theo quy định tại Điều 9 Thông tư 01/2016/TT-BCA quy định tuần tra, kiểm soát công khai kết hợp với hóa trang.

Đối với người bị hại Nguyễn Bữu Đ và Âu Văn N là có lỗi trong việc đánh T2 và Ng, mặc dù được lực lượng công an xã yêu cầu dừng xe để làm việc về hành vi đánh người và tham gia đánh bạc nhưng bị hại cố tình không dừng xe mà còn chạy tốc độ cao, sau khi vượt qua được xe của S đã không làm chủ được tay lái dẫn đến va chạm với xe của T, hành vi của Đ và Ng là côn đồ và manh động, là không đúng và vi phạm pháp luật, đáng lẽ Công an xã Đa Phước phải mời về trụ sở để xử lý vi phạm hành chính hoặc báo cáo về Công an huyện xin ý kiến phối hợp xử lý các đối tượng theo quy định thì không xảy ra hậu quả chết người.

Tòa án tuyên: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Cản trở giao thông đường bộ”, bị xử phạt 01 năm tù.

70 – 83

11

Bản án số 33/2018/HS-PT ngày 06/02/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp

 

Ngày 27/7/2017, Đào V đi đến trại chăn nuôi bò của anh T3 để đốn tre về làm chuồng bò. Sau khi đốn tre đã để dọc lên xe đẩy, buộc lại rồi kéo xe di dọc theo Quốc lộ 30 rồi đỗ xe trên đường để tháo dây buộc đưa tre xuống. Đến khoảng 11h10’, anh M điều khiển xe mô tô chạy qua, làm phần đầu nhọn của đọt tre của một cây tre có chiều dài 11,53m đâm trúng vào vùng ngực, anh M té ngã xuống đường. Mọi người đưa anh M đến bệnh viện đa khoa huyện T cấp cứu, hậu quả anh M tử vong.

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm tuyên: Bị cáo Đào V phạm tội “Cản trở giao thông đường bộ”, xử phạt 04 tháng tù.

Sau bản án sơ thẩm, Bị cáo V có đơn kháng cáo với nội dung xin được hưởng án treo. Người đại diện hợp pháp của người bị hại cũng có đơn kháng cáo xin cho bị cáo được hưởng án treo.

Tòa án nhân dân cấp Phúc thẩm nhận định:

Lúc đậu xe trên đường quốc lộ 30, bị cáo không cho người canh coi hay làm biển báo cho xe lưu thông biết. Hành vi của bị cáo là cản trở giao thông trên đường, đã gây ra hậu quả làm cho người bị hại tử vong. Xét thấy, bị báo phạm tội do lỗi vô ý, tai nạn xảy ra nằm ngoài ý muốn của bị cáo, bị cáo đã tích cực bồi thường phần dân sự cho đại diện hợp pháp của bị hại. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự và bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo và kháng cáo của điện diện hợp pháp của người bị hại xin cho bị cáo hưởng án treo.

Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm tuyên:

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đào V và người đại diện hợp pháp của người bị hại, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt.

Tuyên bị cáo V phạm tội “cản trở giao thông đường bộ”, xử phạt bị cáo V 04 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm tính từ ngày án phúc thẩm tuyên.

84 – 87

12

Bản án số 63/2017/HSST ngày 29/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình

 

Gia đình anh Lưu Văn C khởi công xây dựng công trình tại thôn N, xã C1, huyện D. C đã liên hệ với anh Phạm Đình C2 để mua vật liệu xây dựng. Ngày 23/02/2017 anh C3 mang đến cho C khoảng 03 khối cát bị chìm cách đống đá bị chìm ngày 16/02 khoảng 06 mét, ngay trước công trình của C và gần cửa hàng mắt kính Ngọc Linh.
C nhận trách nhiệm vận chuyển toàn bộ số cát, đá này đến địa điểm xây dựng nên ngay sau đó C đã yêu cầu những người thợ xây vận chuyển dần số cát, đá này đến địa điểm xây dựng. Đến tối ngày 23/02/2017, sau khi các công nhân đã nghỉ ngơi, vẫn còn khoảng 01m3 đá và 01m3 cát chưa sử dụng tràn ra lòng đường. Vào khoảng 22h ngày 23/02/2017 anh Bùi Văn T điều khiển xe mô tô theo hướng xã Đại về xã C1 để về nhà theo hướng rẽ phải khi đến trước công trường xây dựng của công ty C lúc đó thời gian.ở đó. , trời có mưa vài nơi, tầm nhìn hạn chế, tuy nhiên do đống đá, cát chiếm gần hết phần đường bên phải nên xe máy của anh T đã tông vào đống đá.
Sau đó tiếp tục đâm vào đống cát trên đường làm đá tảng và cát bắn về phía trước và sang trái. Ngay sau khi xảy ra tai nạn, anh T đã được anh Vũ Văn D2, anh Phạm Trung T1, chị Vũ Thị H1 ở gần hiện trường đưa đến trạm y tế xã C1 để sơ cứu, sau đó anh T được người nhà chuyển đi. đến bệnh viện cấp cứu nhưng không qua khỏi.
Phán quyết của tòa án:

Bị cáo Lưu Văn C khai nhận, nhà bị cáo ở cuối thôn, vì muốn cuộc sống đỡ vất vả nên bị cáo đã ra đường liên xã thuê đất lập quán để kinh doanh, nhưng ở cảnh xe cẩu VLXD đổ 01 mét khối cát và 01 mét khối đá xuống thềm, lề đường khu vực xã C1, huyện D, tỉnh Thái Bình mà không đặt biển báo, đèn sáng báo hiệu nguy hiểm. Sau vụ tai nạn, ông T va vào đống đá và đống cát đổ xuống đường, tử vong do chấn thương vùng đầu. Tòa án cấp sơ thẩm có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo phạm tội “cản trở giao thông”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 203 BLHS.
Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có địa chỉ, nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng biện pháp cải tạo cho bị cáo thay vì nơi cư trú. tác dụng giáo dục.
Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm quyết định:

Xét bị cáo Lưu Văn C phạm tội “cản trở giao thông”. Tuyên phạt bị cáo C 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Trách nhiệm dân sự và vật chứng của vụ án đã được giải quyết.

89 – 95

Nội dung bài viết:

    Hãy để lại thông tin để được tư vấn

    comment-blank-solid Bình luận

    084.696.7979 19003330 Báo giá Chat Zalo