Trong quá trình sống, lao động và làm việc, nhiều hành vi vô ý dẫn đến hậu quả đáng tiếc là chết người. Vậy những hành vi này sẽ bị xử lý và hình phạt như thế nào đối với tội vô ý làm chết người theo pháp luật hình sự hiện hành? Luật sư tư vấn và trả lời cụ thể:

1. Vô ý làm chết người là gì?
Vô ý làm chết người là hành vi của người:
Không thấy trước hành vi của mình có khả năng dẫn đến hậu quả chết người trong khi phải thấy trước và có thể thấy trước; Hoặc
Thấy trước hành vi của mình có thể dẫn đến chết người nhưng tin rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra.
2.Phân tích các yếu tố cấu thành tội vô ý làm chết người
Trong khoa học luật hình sự, bốn yếu tố cấu thành tội phạm. Hành vi phạm tội phải hội đủ 4 yếu tố này thì mới bị coi là tội phạm. Đối với tội vô ý làm chết người phải có đủ 4 yếu tố sau:
2.1 Khách thể của tội phạm – Điều 128 BLHS
Người đủ 16 tuổi trở lên thực hiện hành vi thì có năng lực trách nhiệm hình sự.
2.2 Khách thể của tội phạm – Điều 128 BLHS
Khách thể của tội ngộ sát là quyền sống của con người. Chủ thể của tội phạm này là con người.
2.3 Mặt khách quan của tội phạm – Điều 128 BLHS
Hành vi cố ý làm chết người được thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động. Hậu quả chết người là bắt buộc đối với tội cố ý giết người. Và giữa hành vi ngoài ý muốn và hậu quả chết người phải có mối quan hệ nhân quả.
2.4 Mặt chủ quan của tội phạm – Điều 128 BLHS
Lương tâm của kẻ gây hấn là dấu hiệu đặc trưng cho phép phân biệt tội ngộ sát với tội giết người. Người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội của mình dưới dạng hành vi sai trái vô ý, bao gồm cả sự cẩu thả cẩu thả và sự cẩu thả quá tự tin. Trong đó, cẩu thả cẩu thả là trường hợp do thiếu cẩn trọng trong việc thực hiện hành vi mà người phạm tội không thấy trước khả năng dẫn đến hậu quả chết người mặc dù lẽ ra phải hoặc có thể thấy trước điều đó. Vô ý quá tin là trường hợp người phạm tội thấy trước hành vi của mình có thể dẫn đến hậu quả chết người, nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra và có thể tránh được, nhưng cuối cùng hậu quả đó vẫn xảy ra.
3. Mức hình phạt đối với tội vô ý làm chết người
Đối với tội vô ý làm chết người, Điều 128 BLHS quy định:
- Mức hình phạt của khoản 1 Điều 128 BLHS: Người nào vô ý làm chết người, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
- Mức hình phạt quy định tại Khoản 2 Điều 128 BLHS: Phạm tội làm chết 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm. Đối với tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính như sau, Điều 129 BLHS quy định:
Tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính:
-Mức hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 129 BLHS: Người nào vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp, quy tắc hành chính, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
- Mức hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 129 BLHS: Phạm tội làm chết 02 người trở lên thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm .
-Mức xử phạt quy định tại khoản 3 Điều 129 BLHS: Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Như vậy, nếu họ bị khởi tố và kết án về tội vô ý làm chết người thì sẽ bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Nếu phạm tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính, người phạm tội có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 1 năm đến 5 năm. đồng thời có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề, cấm hành nghề nhất định từ 1 năm đến 5 năm.
4. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của tội vô ý làm chết người
Theo tại Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau:
- Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
a) Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;
b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;
c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;
d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;
đ) Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội;
e) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra;
g) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;
h) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;
i) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;
k) Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức;
l) Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra;
m) Phạm tội do lạc hậu;
n) Người phạm tội là phụ nữ có thai;
o) Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên;
p) Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;
q) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;
r) Người phạm tội tự thú;
s) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;
t) Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án;
u) Người phạm tội đã lập công chuộc tội;
v) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác;
x) Người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ. Khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án. Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt. Ngoài ra, theo quy định tại Điều 54 BLHS về áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt thì:
Tòa án có thể áp dụng mức án thấp hơn mức thấp nhất của mức hình phạt được áp dụng, nhưng phải thuộc mức hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật mà người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của bộ luật này. Tòa án có thể tuyên mức án thấp hơn mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng, nhưng không nhất thiết phải ở khung hình phạt liền kề nhẹ nhất của luật đối với người phạm tội lần đầu, giúp sức cho đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể. . vai trò. Trong trường hợp đủ điều kiện quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà điều luật chỉ quy định một khung hình phạt hoặc khung hình phạt này là khung hình phạt nhẹ hơn thì Tòa án có thể quyết định mức án dưới mức án tối đa. hoặc chuyển sang loại hình phạt khác nhẹ hơn. Trong bản án phải ghi rõ lý do giảm nhẹ. Vì vậy, trách nhiệm hình sự của bị cáo có thể được giảm nhẹ trong trường hợp có tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 hoặc trong trường hợp có hai tình tiết giảm nhẹ thì luôn có thể áp dụng cho bị cáo dưới mức thấp của khung hình phạt.
Nội dung bài viết:
Bình luận