Có nhiều yếu tố, nhiều yếu tố tham gia vào việc hình thành và vận hành các cơ chế bảo đảm quyền con người, chẳng hạn, đó là các yếu tố của hệ thống chính trị như Đảng, Quốc hội, các cơ quan hành pháp, pháp luật, cơ quan tư pháp,.. .

1. Nội dung cơ chế bảo đảm quyền con người
Khi nói đến “Cơ chế bảo đảm quyền con người”, bản thân cụm từ này đã bao hàm hai nội dung cơ bản:
Thứ nhất, đó là nguyên tắc, phương pháp, phương tiện, quy tắc, thủ tục, v.v. thúc đẩy và bảo đảm quyền con người. Thứ hai, đó là các yếu tố, bộ phận, v.v. tham gia thúc đẩy và bảo đảm quyền con người.
Đối với nội dung thứ nhất, do quyền con người rất phong phú, đa dạng và không kém phần phức tạp nên việc thúc đẩy và bảo đảm quyền con người đòi hỏi phải có những nguyên tắc, quy tắc và phương pháp khác nhau. Hay nói cách khác, với mỗi cơ chế bảo đảm quyền con người khác nhau thì có cách thức, nguyên tắc và quy tắc khác nhau. Các nguyên tắc và quy tắc khác nhau này góp phần bảo đảm và thúc đẩy quyền con người từ các góc độ khác nhau.
Mặt khác, các nguyên tắc, quy tắc, biện pháp và phương tiện bảo đảm quyền con người vô cùng phong phú, đa dạng, tùy thuộc vào các chủ thể khác nhau. Những nguyên tắc và quy tắc này quy định bản chất và đặc điểm của các cơ chế nhằm đảm bảo quyền con người. Chẳng hạn, nguyên tắc thanh tra, kiểm tra, giám sát; nguyên tắc phối hợp; nguyên tắc đối thoại; các nguyên tắc hợp tác quốc gia, khu vực và quốc tế, v.v., sẽ quy định cơ chế kiểm tra, thanh tra, giám sát, phối hợp, đối thoại, v.v. Nếu có thể bảo đảm quyền con người là điều kiện cần thì nguyên tắc, quy tắc là điều kiện đủ.
Nguyên tắc và quy tắc là những khối xây dựng quan trọng của cơ chế bảo đảm quyền con người, và hiệu quả của việc bảo đảm và thúc đẩy quyền con người phụ thuộc rất nhiều vào các nguyên tắc và quy tắc này. Về nội dung thứ hai, có nhiều nhân tố, thành tố tham gia vào việc hình thành và vận hành cơ chế bảo đảm quyền con người, chẳng hạn: đó là các thành tố của hệ thống chính trị như: Đảng, Quốc hội, cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp, tổ chức chính trị, v.v. Ngoài ra, còn có các hiệp hội, tổ chức quốc tế như Liên hợp quốc, Cộng đồng chung châu Âu, Hiệp hội ASEAN, v.v.
Chủ thể bảo đảm quyền con người ở quốc gia bao gồm các thành tố của hệ thống chính trị như Đảng, Quốc hội, cơ quan hành pháp, tư pháp và các tổ chức chính trị - xã hội… thông qua các nguyên tắc, tập quán, quy tắc (bao gồm cả hệ thống pháp luật, chính sách…) .) để bảo đảm và thúc đẩy quyền con người. Nhưng không phải là quá trình một sớm một chiều, quyền con người với sự phong phú, đa dạng của nó cũng tác động đồi với cách thức, nguyên tắc, quy tắc, chủ thể bảo đảm quyền con người. Vì vậy, trong quá trình xây dựng quyền con người, các nguyên tắc, phương thức và nguyên tắc bảo đảm và thúc đẩy quyền con người cũng phải được điều chỉnh cho phù hợp.
2. Giới thiệu về Tòa án nhân dân
Tòa án nhân dân Việt Nam là cơ quan xét xử của cơ quan quyền lực nhà nước Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp, gồm 4 cấp: Tòa án nhân dân tối cao; Tòa án nhân dân cấp cao; Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương; Tòa án quân sự.
- Toà án nhân dân tối cao trực thuộc trung ương, là toà án nhân dân cao nhất trong hệ thống tư pháp.
- Tòa án nhân dân cấp cao có thẩm quyền xét xử đối với nhiều đơn vị hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. - TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
- TAND huyện, quận, thị xã và tương đương
Ngoài ra còn có tòa án quân sự các cấp.
3. Giới thiệu về Viện kiểm sát nhân dân
Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong lĩnh vực tố tụng hình sự nhằm thực hiện quyền công tố của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện từ khi giải quyết tố giác, tin báo về vụ án hình sự, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình thủ tục. quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự.
Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân nhằm kiểm sát tính hợp pháp của hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm, yêu cầu khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong giải quyết tranh chấp hành chính, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; công tác thi hành án, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác do pháp luật quy định. Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, tổ chức và cá nhân. cá nhân. , giúp đảm bảo việc tuân thủ pháp luật được nghiêm chỉnh và thống nhất.
4. Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân tác động đến cơ chế bảo đảm quyền con người
Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm và thúc đẩy quyền con người, nhất là về bảo vệ quyền con người. Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân là bộ phận quan trọng của cơ chế bảo đảm quyền con người. Việc bảo vệ quyền con người bằng cơ chế tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân chỉ tồn tại khi có hành vi xâm hại đến quyền, lợi ích của cá nhân công dân, lợi ích của Nhà nước, của chế độ. So với Quốc hội và Chính phủ, vai trò của Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân tập trung hơn vào chức năng và hiệu quả của các cơ chế bảo đảm quyền con người. Cụ thể, hai cơ quan này tập trung vào việc bảo vệ nhân quyền và giải quyết các vi phạm nhân quyền. Ngoài ra, dưới góc độ tư pháp, các cơ quan này còn xây dựng các cơ chế bảo đảm quyền con người, như tòa án độc lập, thẩm phán độc lập khi xét xử, v.v.
5. Tòa án nhân dân bảo đảm quyền con người
Trong bộ máy nhà nước ta, vị trí của Tòa án nhân dân được thể hiện tại Điều 102 Hiến pháp: “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp. “. Toà án nhân dân là cơ quan duy nhất được Hiến pháp và pháp luật uỷ quyền thực hiện chức năng xét xử. Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. . Toà án nhân dân thay mặt nhà nước ra các quyết định trực tiếp quyết định đời sống, chính trị, kinh tế của người dân cụ thể, do đó có vai trò cực kỳ quan trọng, trực tiếp bảo đảm quyền và lợi ích của người dân không bị xâm phạm. Để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ công lý nói chung, bảo vệ quyền con người nói riêng, trong hoạt động xét xử của mình, Tòa án phải tuân theo những nguyên tắc nhất định, hầu hết các nguyên tắc đó đã được quy định trong Hiến pháp và luật.
Để quyền con người không bị xâm phạm trong hoạt động tư pháp, mà trọng tâm là hoạt động xét xử, tòa án nhân dân cần bảo đảm thực hiện đúng các nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
- Nguyên tắc xét xử công khai
- Nguyên tắc xét xử độc lập và thượng tôn pháp luật
- Nguyên tắc xác định tính xác thực của vụ án
- Nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số
- Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa
- Nguyên tắc bình đẳng trước Tòa án
- Giám đốc phiên tòa
6. Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc bảo vệ quyền con người
Để bảo vệ quyền con người, quyền công dân, Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 quy định Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) có thẩm quyền tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự và phát biểu ý kiến; thẩm quyền kháng nghị bán án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm và xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ. Trong lĩnh vực tố tụng dân sự, vai trò bảo vệ quyền con người, quyền công dân của VKSND theo BLTTDS năm 2015 được thể hiện trong những quy định cụ thể như sau:
- Viện kiểm sát tham gia phiên toà, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự: Theo quy định của BLTTDS năm 2015, Viện kiểm sát (VKS) tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự với vai trò là cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Điều 21 BLTTDS năm 2015 đã quy định cụ thể các trường hợp VKSND tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết việc dân sự; ngoài việc tiếp tục quy định các trường hợp VKS tham gia phiên tòa, phiên họp, điều luật còn bổ sung quy định VKS tham gia phiên tòa sơ thẩm đối với trường hợp Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng. - Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ việc dân sự tại phiên tòa, phiên họp sơ thẩm: Về việc phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm: Để bảo đảm sự thống nhất với quy định của Hiến pháp năm 2013 và quy định của Luật tổ chức VKSND năm 2014, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014; đồng thời khắc phục những vướng mắc, bất cập của quy định tại Điều 234 của BLTTDS năm 2004, Điều 262 BLTTDS năm 2015 đã bổ sung nội dung quy định về phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm như sau: “Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án”.
- Viện kiểm sát có thẩm quyền xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ:
Kiểm sát viên khi được Viện trưởng VKS phân công thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự có nhiệm vụ, quyền hạn “Yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này; thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định tại khoản 6 Điều 97 của Bộ luật này” (khoản 3 Điều 58 BLTTDS). - Viện kiểm sát có quyền kháng nghị việc bán bản án, quyết định của Toà án có vi phạm pháp luật theo thủ tục kháng nghị, giám đốc thẩm, tái thẩm.
Nội dung bài viết:
Bình luận