Đã có TAND Tối cao, sao nay lại có TAND Cấp cao?

Chức năng và nhiệm vụ của TAND Cấp cao

Hiến pháp 2013 khẳng định Tòa án nhân dân tối cao và các tòa án khác do luật định là cơ quan duy nhất thực hiện quyền tư pháp, tức là có chức năng xét xử các vụ án, giải quyết tranh chấp theo thẩm quyền.
Khác với Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 có những quy định mới về hệ thống tổ chức và nhiệm vụ của Tòa án nhân dân. Khoản 2 Điều 102 Hiến pháp 2013 quy định nguyên tắc công khai của hệ thống tòa án nhân dân. Theo đó, ngoài Tòa án nhân dân tối cao, Hiến pháp không liệt kê cụ thể các tòa án khác mà quy định các tòa án đó là luật. Điều này đảm bảo tính bao quát, ổn định lâu dài của Hiến pháp và tính linh hoạt của pháp luật nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước trong từng thời điểm. Thực hiện Hiến pháp, Điều 3, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 (có hiệu lực từ ngày 01 tháng 6 năm 2015 và thay thế Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002). , tòa án nhân dân ở nước ta sẽ gồm bốn cấp: Tòa án nhân dân tối cao; Tòa án nhân dân cấp cao; Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương; Tòa án quân sự. Quyền hạn, chức năng, nhiệm vụ của Tòa án nhân dân cấp huyện và cấp tỉnh vẫn như cũ.

Tòa án nhân dân cấp cao có trách nhiệm xét xử phúc thẩm các bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị, kháng nghị ; Theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm là bản án, quyết định của Toà án trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của mình đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị Hội đồng gồm 3 thẩm phán hoặc Hội đồng toàn thể của Uỷ ban tư pháp Toà án cấp cao kháng nghị. Như vậy, đến nay TAND cấp cao sẽ thực hiện hầu hết các nhiệm vụ của TAND tối cao. Toà án nhân dân cấp cao có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. trung ương chưa có hiệu lực thì bị kháng cáo, kháng nghị; Theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm là bản án, quyết định của Toà án trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của mình đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị Hội đồng gồm 3 thẩm phán hoặc Hội đồng toàn thể của Uỷ ban tư pháp Toà án cấp cao kháng nghị. Như vậy, TAND cấp cao sẽ thực hiện hầu hết các nhiệm vụ của TAND tối cao hiện nay.

Theo quy định của Luật Tòa án nhân dân, Tòa án nhân dân tối cao không thực hiện chức năng xét xử phúc thẩm mà chỉ thực hiện chức năng kiểm sát việc xét xử của các tòa án khác. Tòa án này tiến hành giám đốc thẩm, tái thẩm bởi Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm 5 Thẩm phán hoặc Hội đồng toàn thể gồm các Thẩm phán của Tòa án nhân dân tối cao. Tòa án này sẽ có nhiệm vụ tổng kết thực tiễn xét xử; bảo đảm việc áp dụng thống nhất pháp luật trong lĩnh vực xét xử; quản lý các Toà án về tổ chức; xây dựng luật do Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội giao. Tòa án còn có nhiệm vụ đào tạo đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực, trình độ của đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm và các chức danh khác của Tòa án.
Khoản 4 Điều 22 Luật TAND quy định: “Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là quyết định cao nhất và không bị kháng nghị. Quy định này nhằm cụ thể hóa quy định tại khoản 1 Điều 104 của Hiến pháp: “Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử tối cao của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Tiết c, khoản 2, điều 22 của luật nêu rõ, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ “chọn quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, đã tiêu chuẩn của Tòa án, tổng hợp, xây dựng các án lệ và công bố để Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong giải quyết tranh chấp trọng tài.

Nội dung bài viết:

    Hãy để lại thông tin để được tư vấn

    comment-blank-solid Bình luận

    084.696.7979 19003330 Báo giá Chat Zalo