Phân tích tổ chức, nguyên tắc hoạt động, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát ?

Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo quy định của Hiến pháp 2013. Bài viết phân tích làm rõ tổ chức, nguyên tắc, chức năng, bài tập. .. của Văn phòng Công tố, cụ thể là:

VKSND tối cao tổ chức Hội thảo "Thông tin kết quả nghiên cứu khoa học của  ngành Kiểm sát nhân dân"
Phân tích tổ chức, nguyên tắc hoạt động, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát ?

 

1. Vị trí và tổ chức của Văn phòng Công tố

Ngày 26-7-1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 20-LCT ban hành Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và ngày này cũng là ngày thành lập Viện kiểm sát nhân dân. Theo quy định của Hiến pháp Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân là hệ thống cơ quan nhà nước độc lập trong cơ cấu tổ chức của cơ quan nhà nước.
Viện kiểm sát nhân dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức theo ngành dọc thành bốn cấp, gồm:

- Viện kiểm sát nhân dân tối cao

- Viện kiểm sát nhân dân cấp cao (hiện có 3 Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh)

- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (hiện có 63 Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh).
- Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (hiện có 710 Viện kiểm sát cấp huyện ở 710 huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh).
Trong hệ thống Viện kiểm sát nhân dân có các Kiểm sát viên quân sự, gồm:

- Viện kiểm sát quân sự trung ương.
- Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương.
- Giấy ủy quyền quân sự khu vực.
Toàn bộ hệ thống Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Quốc hội bầu, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của Chủ tịch nước.

Nhiệm kỳ của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao tiếp tục thực hiện chức năng của mình cho đến khi Quốc hội khóa mới bầu ra Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao giao hoặc ủy quyền và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do pháp luật quy định; chịu trách nhiệm trước Chủ tịch nước và trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Nhiệm kỳ của Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao là 05 năm, kể từ ngày được bổ nhiệm.

2. Nguyên tắc hoạt động của Viện công tố

Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức và hoạt động trên cơ sở những nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta nói chung. Tuy nhiên, do vị trí, chức năng, nhiệm vụ đặc thù, hệ thống Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc đặc thù. Đó là nguyên tắc tập trung, thống nhất lãnh đạo trong ngành và nguyên tắc độc lập, không phụ thuộc vào bất kỳ cơ quan nhà nước địa phương nào. - Nguyên tắc tập trung, thống nhất lãnh đạo trong ngành.
Nguyên tắc này bắt nguồn từ nguyên tắc tập trung dân chủ và nhằm bảo đảm tính thống nhất của nhà nước pháp quyền.

Các cơ quan công quyền địa phương một mặt báo cáo trực tiếp với chính phủ hoặc bộ ngành, mặt khác báo cáo trực tiếp với hội đồng nhân dân hoặc ủy ban nhân dân địa phương. Nguyên tắc này được gọi là nguyên tắc phụ thuộc hai chiều.
Viện kiểm sát nhân dân ở nước ta không được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc phụ thuộc hai chiều nêu trên mà theo nguyên tắc tập trung, thống nhất lãnh đạo trong ngành. Theo nguyên tắc này, Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng đứng đầu. Viện trưởng VKSND cấp dưới báo cáo Viện trưởng VKSND cấp trên. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân địa phương và Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Điều 109 Hiến pháp năm 2013 và Điều 8 Luật tổ chức Viện kiểm sát). của Việt Nam), 2002). Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân địa phương, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự quân khu, khu vực, Điều tra viên của Viện kiểm sát nhân dân đều do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân bổ nhiệm. Viện kiểm sát nhân dân bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm (Điều 9 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2002).
Như vậy, tất cả các tầng phổ biến từ trên xuống dưới tạo thành một hệ thống thống nhất. Mọi hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân dù ở cấp nào đều đặt dưới sự chỉ đạo của Viện trưởng. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm cá nhân về toàn bộ hoạt động của Viện kiểm sát dưới sự chỉ đạo của mình trước Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm cá nhân về hoạt động của toàn ngành kiểm sát trước Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước.

Việc thực hiện nguyên tắc tập trung, thống nhất lãnh đạo trong ngành bảo đảm cho các cấp công tố hoạt động đồng bộ, thống nhất, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố và kiểm sát.
Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh đều có Ủy ban công tố. Ủy ban giám sát đã làm việc tập thể, thảo luận và quyết định theo đa số những vấn đề quan trọng như phương hướng, nhiệm vụ, chương trình công tác, dự án luật, dự án pháp lệnh, v.v. (Điều 32, 35 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2002). Khi Kiểm sát viên không nhất trí với ý kiến ​​của đa số thành viên Viện kiểm sát thì luôn làm theo quyết định của đa số, nhưng có quyền báo cáo cấp trên (Ủy ban thường vụ Quốc hội nếu là Ủy ban thường vụ Quốc hội). Viện trưởng Viện kiểm sát), Viện kiểm sát nhân dân tối cao; cho Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao nếu là Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh). Như vậy, quy định này không chỉ bảo đảm mở rộng dân chủ, phát huy trí tuệ của tập thể mà còn khẳng định trách nhiệm của Chủ tịch nước.
- Nguyên tắc không phụ thuộc vào cơ quan nhà nước địa phương nào.
Trong tổ chức và hoạt động của mình, Viện công tố không phụ thuộc vào bất kỳ cơ quan nhà nước địa phương nào. Nguyên tắc này có mối quan hệ chặt chẽ với nguyên tắc tập trung, thống nhất trong công nghiệp. Nguyên tắc này nhằm tạo điều kiện để Viện kiểm sát nhân dân hoàn thành nhiệm vụ bảo đảm việc áp dụng pháp luật nghiêm chỉnh và thống nhất.

Theo quy định của Hiến pháp năm 2013, luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, toàn bộ hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân đặt dưới sự giám sát tổng thể, thường xuyên, chặt chẽ của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Viện kiểm sát nhân dân. và Tổng thống. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và giải trình trước Quốc hội về công tác của mình. trong thời gian Quốc hội vắng mặt thì chịu trách nhiệm và báo cáo trước Ủy ban thường vụ Quốc hội, trước Chủ tịch nước (Điều 108 Hiến pháp) luật năm 2013; Điều 9 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002).
Nội dung của nguyên tắc Viện kiểm sát nhân dân không phụ thuộc vào bất kỳ cơ quan nhà nước ở địa phương nào được minh họa dưới đây: của Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Khi hoạt động, các Viện kiểm sát nhân dân chỉ phụ thuộc vào Hiến pháp, các đạo luật, pháp lệnh và các văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Chỉ thị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Điều đó cũng có nghĩa là các cơ quan nhà nước ở địa phương không có quyền can thiệp vào hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân.
Về mặt tổ chức, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định bộ máy và biên chế của Viện kiểm sát nhân dân các cấp; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên các Viện kiểm sát nhân dân địa phương.

Thừa nhận nguyên tắc không lệ thuộc vào bất kỳ cơ quan nhà nước nào ở địa phương cũng cần lưu ý là, theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân địa phương chịu sự giám sát của Hội đồng nhân dân cùng cấp, chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân, trả lời chất vấn của các đại biểu Hội đồng nhân dân về tình hình chấp hành pháp luật ở địa phương và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân ở địa phương. Mặt khác, qua thực tiễn hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân, Viện trưởng có quyền kiến nghị với Hội đồng nhân dân về việc phòng ngừa tội phạm và những biểu hiện vi phạm pháp luật để bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh.

3. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự

Điều 2 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014 Quy định về chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân đã xác định rõ: Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư. Viện kiểm sát có nhiệm vụ bảo vệ hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, giúp bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong khuôn khổ tố tụng hình sự nhằm thực hiện quyền buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện từ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, khởi tố và điều tra tội phạm. trong suốt quá trình truy tố. , điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố bảo đảm mọi hành vi phạm tội và người phạm tội đều được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội. đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội; không để người bị khởi tố, bắt, tạm giữ, tạm giam hoặc bị hạn chế quyền con người, quyền công dân trái pháp luật. Khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

- Yêu cầu khởi tố, huỷ bỏ quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án trái pháp luật, phê chuẩn, không phê chuẩn quyết định khởi tố bị can của cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; trực tiếp khởi tố vụ án, khởi tố bị can trong những trường hợp do BLTTHS quy định;

- Quyết định, phê chuẩn việc áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ các biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra, truy tố theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

- Huỷ bỏ các quyết định tố tụng trái pháp luật khác trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra của cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;

- Khi cần thiết đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện;

- Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan cung cấp tài liệu để làm rõ tội phạm, người phạm tội;

- Trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; tiến hành một số hoạt động điều tra để làm rõ căn cứ quyết định việc buộc tội đối với người phạm tội;

- Điều tra các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, các tội phạm về tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp theo quy định của luật;

- Quyết định việc áp dụng thủ tục rút gọn trong giai đoạn điều tra, truy tố;

- Quyết định việc truy tố, buộc tội bị cáo tại phiên toà;

- Kháng nghị bản án, quyết định của tòa án trong trường hợp viện kiểm sát nhân dân phát hiện oan, sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội;

- Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc buộc tội đối với người phạm tội theo quy định của BLTTHS (Xem: Điều 3 Luật tổ chức viện kiểm sát năm 2014).
Kiểm sát hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự. Viện kiểm sảt nhân dân kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm bảo đảm việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; việc giải quyết vụ án hình sự; việc thi hành án; việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác được thực hiện đúng quy định của pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát hoạt động tư pháp còn nhằm bảo đảm việc bắt, tạm giữ, tạm giam, thi hành án phạt tù, chế độ tạm giữ, tạm giam, quản lí và giáo dục người chấp hành án phạt tù theo đúng quy định của pháp luật; quyền con người và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, người chấp hành án phạt tù không bị luật hạn chế phải được tôn trọng và bảo vệ; bảo đảm bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành nghiêm chỉnh và bảo đảm mọi vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp phải được phát hiện, xử lí kịp thời, nghiêm minh.

Khi thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

- Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động tư pháp theo đúng quy định của pháp luật; tự kiểm tra việc tiến hành hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền và thông báo kết quả cho viện kiểm sát nhân dân; cung cấp hồ sơ, tài liệu để viện kiểm sát nhân dân kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định trong hoạt động tư pháp;

- Trực tiếp kiểm sát; xác minh, thu thập tài liệu để làm rõ vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp;

- Xử lí vi phạm; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khắc phục, xử lí nghiêm minh vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp; kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm;

- Kháng nghị bản án, quyết định của toà án có vi phạm pháp luật; kiến nghị hành vi, quyết định của toà án có vi phạm pháp luật; kháng nghị hành vi, quyết định có vi phạm pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền khác trong hoạt động tư phâp;

- Kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền;

- Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong kiểm sát hoạt động tư pháp theo quy định của pháp luật (Xem: Điều 4 Luật tổ chức viện kiểm sát năm 2014).

4. Tiêu chuẩn Kiểm sát viên. Tiêu chuẩn chung:

- Theo quy định tại Điều 75 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết, trung thực, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ đại học pháp luật, đã được đào tạo nghiệp vụ công tố, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, đã có thời gian công tác thực tiễn theo quy định của luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014, nếu điều kiện sức khoẻ đảm bảo sau khi hoàn thành nhiệm vụ được giao thì có thể được tuyển chọn, bổ nhiệm làm Kiểm sát viên. - Việc xác định tiêu chuẩn Kiểm sát viên quy định tại Điều 75 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 được căn cứ quy định tại Thông tư liên tịch số 01/2003/TTLT-TANDTC-BQP-BNV-UBTWMTTQVN để vận dụng cho phù hợp;

Tiêu chuẩn cụ thể của Kiểm sát viên:

- Tiêu chuẩn cụ thể của Kiểm sát viên thứ nhất:

Theo quy định tại Điều 77 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 thì người có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 75 của Luật này và có đủ các điều kiện sau đây thì được bổ nhiệm làm Viện trưởng Viện kiểm sát phổ biến. Viện kiểm sát nhân dân; nếu là quân nhân tại ngũ, anh ta có thể được bổ nhiệm làm công tố viên thứ nhất của văn phòng công tố quân sự:

1. Có thời gian công tác trong lĩnh vực luật ít nhất là 4 năm;

2. Có khả năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp;

3° Đã qua kỳ thi tuyển vào ngạch kiểm sát viên sơ cấp.

- Tiêu chuẩn cụ thể đối với Kiểm sát viên trung cấp:

Theo quy định tại Điều 77 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 thì người có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 75 của Luật này và có đủ các điều kiện sau đây thì được bổ nhiệm làm Kiểm sát viên trung cấp của Viện kiểm sát nhân dân. Sàn gỗ Sàn gỗ nhân dân; nếu là quân nhân tại ngũ thì có thể được bổ nhiệm Kiểm sát viên trung cấp của Viện kiểm sát quân sự:

a) Đã có thời gian giữ chức vụ Kiểm sát viên thứ nhất ít nhất là 05 năm;

b) Có năng lực thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp;

c) Có khả năng tư vấn về nghiệp vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp cho Kiểm sát viên sơ cấp;

d) Đã trúng tuyển kỳ thi tuyển ngạch Kiểm sát viên trung cấp.
2. Trong trường hợp do yêu cầu của cán bộ Viện kiểm sát nhân dân, người có thời gian giữ chức vụ pháp luật từ 10 năm trở lên có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 75 của Luật này thì điểm b, c và d khoản 1 Điều này điều này có thể được bổ nhiệm làm Kiểm sát viên trung cấp của Viện kiểm sát nhân dân; nếu là quân nhân tại ngũ thì có thể được bổ nhiệm Kiểm sát viên trung cấp của Viện kiểm sát quân sự.
- Tiêu chuẩn cụ thể của Kiểm sát viên cao cấp:

Theo quy định tại Điều 79 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014 thì người có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 75 của luật này và có đủ các điều kiện sau đây thì có thể được bổ nhiệm làm Kiểm sát viên cao cấp của Viện kiểm sát nhân dân; nếu là sĩ quan quân đội tại ngũ thì có thể được bổ nhiệm làm Kiểm sát viên cao cấp của Viện kiểm sát quân sự:

a) Đã là Kiểm sát viên trung cấp ít nhất 05 năm;

b) Có năng lực thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp;

c) Có khả năng hướng dẫn nghiệp vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp đối với Kiểm sát viên cấp dưới;

d) Đã trúng tuyển kỳ thi vào ngạch Kiểm sát viên cao cấp.
2. Trong trường hợp do nhu cầu cán bộ của Viện kiểm sát nhân dân, người đã có thời gian làm công tác pháp luật từ 15 năm trở lên, có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 75 của Luật này, các điểm b, c và d khoản 1 Điều này thì có thể được bổ nhiệm làm Kiểm sát viên cao cấp của Viện kiểm sát nhân dân; nếu là sĩ quan quân đội tại ngũ thì có thể được bổ nhiệm làm Kiểm sát viên cao cấp của Viện kiểm sát quân sự.
- Tiêu chuẩn cụ thể của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao:

Theo quy định tại Điều 79 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014 thì người có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 75 của Luật này và có đủ các điều kiện sau đây thì có thể được tuyển chọn, bổ nhiệm làm Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao:

a) Đã là Kiểm sát viên cao cấp ít nhất 05 năm;

b) Có năng lực chỉ đạo, điều hành công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

c) Có năng lực giải quyết những vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
2. Trường hợp do nhu cầu biên chế của Viện kiểm sát nhân dân là người đã thực hiện chức năng tư pháp từ 20 năm trở lên và có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 75 của Luật này điểm b và điểm c khoản 1 Điều này. 1 Về vấn đề này, một người có thể được lựa chọn và bổ nhiệm làm kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

5. Thủ tục tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Kiểm sát viên.

Thủ tục lựa chọn và bổ nhiệm Kiểm sát viên:

Quy trình tuyển chọn, bổ nhiệm Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp gồm các bước sau đây:

- Trước hết, các ủy ban nhân sự của Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp quyết định, theo nhu cầu của công chức, chính sách bổ nhiệm các kiểm sát viên dưới sự chỉ đạo của họ.
- Thứ hai, cơ quan tư vấn lao động điều hành lập hồ sơ chấp hành viên, tổng hợp các loại đơn khiếu nại, tố cáo, báo cáo kết luận liên quan đến việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại công chức (nếu có) để báo cáo ban cán sự đảng cùng cấp xem xét. - Thứ ba, cán bộ quản lý thuộc diện bổ nhiệm, bổ nhiệm lại phải tự kiểm điểm, đánh giá ưu điểm, khuyết điểm trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao và bản nhận xét, đánh giá của người đứng đầu đơn vị.
- Thứ tư, đơn vị có cán bộ thuộc diện bổ nhiệm, bổ nhiệm lại tổ chức để tập thể Kiểm sát viên, cán bộ của đơn vị góp ý kiến. Tổ chức lấy phiếu tín nhiệm (đối với những người ứng cử lần đầu), lấy ý kiến ​​nhận xét của cấp ủy đảng, chi bộ, cơ sở, trưởng ban công tác mặt trận, tổ dân phố... theo định kỳ của đối tượng được xem xét ứng cử. Với cấp điều hành được tái bổ nhiệm, rà soát, đánh giá cán bộ đúng quy trình trước khi xem xét tái bổ nhiệm. - Thứ năm, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu, Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao và tập thể lãnh đạo tổng hợp kết quả kiểm sát, xác minh và kết luận. các vấn đề phát sinh mới cho cán bộ (nếu có).

- Thứ sáu, thủ trưởng đơn vị, ban thường vụ đảng uỷ hoặc cấp uỷ (lãnh đạo cấp dưới) cơ quan, đơn vị... nhận xét, đánh giá và có văn bản đề nghị về nhân sự chỉ định.
- Bảy là, Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân, Viện kiểm sát quân sự các cấp tổ chức họp tuyển chọn và đề nghị Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên Viện kiểm sát các cấp tuyển chọn Kiểm sát viên.
- Thứ tám, Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên các cấp tổ chức họp để lựa chọn những người có đủ tiêu chuẩn theo quy định của Pháp lệnh Kiểm sát viên trình cấp có thẩm quyền xem xét, bổ nhiệm. Căn cứ kết quả của Hội đồng tuyển chọn, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao trình Chủ tịch nước bổ nhiệm Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự trung ương; Chủ tịch Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên cấp tỉnh, cấp huyện, Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự trung ương đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm Kiểm sát viên cấp tỉnh, cấp huyện và Kiểm sát viên các Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện. quân khu, cấp quân khu.
Theo quy định tại Điều 89 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, Kiểm sát viên có thể được miễn nhiệm trong các trường hợp sau đây:

1. Kiểm sát viên đương nhiên thôi làm nhiệm vụ công tố trong trường hợp nghỉ hưu, miễn nhiệm hoặc chuyển công tác.
2. Kiểm sát viên có thể được miễn nhiệm vụ kiểm sát vì lý do sức khỏe, gia đình hoặc lý do khác mà không thể thực hiện được nhiệm vụ được giao.
Quy trình miễn nhiệm Kiểm sát viên:

Quy trình miễn nhiệm Kiểm sát viên tiến hành như sau:

- Một là, Kiểm sát viên làm đơn xin miễn nhiệm, nêu rõ lý do xin miễn nhiệm;

- Hai là, Uỷ ban kiểm sát họp xét để trình Hội đồng tuyển chọn xem xét;

- Ba là, Hội đồng tuyển chọn họp xem xét, trình cấp có thẩm quyền quyết định;

- Bốn là, trên cơ sở kết quả của Hội đồng tuyển chọn, Viện trưởng VKSND tối cao trình Chủ tịch nước miễn nhiệm Kiểm sát viên VKSND tối cao, Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự Trung ương; Chủ tịch Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên VKSND cấp tỉnh, cấp huyện, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự Trung ương đề nghị Viện trưởng VKSND tối cao miễn nhiệm chức danh Kiểm sát viên.
Quy trình đề nghị cách chức Kiểm sát viên VKSND các cấp:

Các bước tiến hành cách chức Kiểm sát viên.
- Một là, Kiểm sát viên bị đề nghị cách chức làm bản tự kiểm điểm;

- Hai là, cơ quan, đơn vị nơi Kiểm sát viên công tác tổ chức kiểm tra xác minh vi phạm và kiểm điểm làm rõ sai phạm của người bị đề nghị cách chức;

- Ba là, Hội đồng kỷ luật cơ quan, đơn vị nơi Kiểm sát viên công tác họp xem xét đề nghị hình thức kỷ luật để cấp có thẩm quyền quyết định ;

- Bốn là, Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát các cấp họp xem xét việc cách chức đối với chức danh Kiểm sát viên;

- Năm là, Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên các cấp họp xem xét đề nghị cách chức chức danh Kiểm sát viên;

- Sáu là, đề nghị cách chức.

Theo quy định tại Điều 89 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014 thì Kiểm sát viên đương nhiên bị cách chức chức danh Kiểm sát viên khi bị kết tội bằng bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, Kiểm sát viên có thể bị cách chức chức danh Kiểm sát viên khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Vi phạm trong khi thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp;

b) Vi phạm quy định tại Điều 84 của Luật này;

c) Vi phạm về phẩm chất đạo đức;

d) Có hành vi vi phạm pháp luật khác.

Nội dung bài viết:

    Hãy để lại thông tin để được tư vấn

    comment-blank-solid Bình luận

    084.696.7979 19003330 Báo giá Chat Zalo