Thuế giá trị gia tăng trong hoạt động tín dụng

Thuế là nghĩa vụ cơ bản của cá nhân, tổ chức đối với nhà nước nhằm đóng góp vào ngân sách nhà nước và các khoản chi tài chính công. Mời quý độc giả cùng ACC tìm hiểu về Thuế giá trị gia tăng trong hoạt động tín dụng thông qua bài viết dưới đây.

1. Quan điểm áp dụng thu thuế GTGT đối với dịch vụ thư tín dụng

Tổng cục Thuế (Bộ Tài chính) ban hành Công văn số 1606/TCT-DNL  về thuế giá trị gia tăng đối với dịch vụ thư tín dụng (L/C) của các tổ chức tín dụng. Ngay sau khi công văn này được ban hành, Hiệp hội Ngân hàng gửi văn bản đến Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước phản ánh và cho rằng yêu cầu này của cơ quan thuế là không hợp lý. Vậy có bắt buộc thu thuế đối với dịch vụ thư tín dụng hay không?

1.1. Thư tín dụng là gì?

Thư tín dụng (L/C) là thư do ngân hàng phát hành, theo yêu cầu của người nhập khẩu, viết ra nhằm cam kết trả cho người thứ ba hoặc bất cứ người nào theo lệnh của người thứ ba một số tiền nhất định, trong một khoảng thời gian nhất định. Với điều kiện người này xuất trình được một bộ chứng từ hợp lệ, đúng theo quy định trong L/C.

Bảo lãnh thanh toán là cam kết của bên bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ thanh toán thay cho bên được bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán của mình khi đến hạn.

Theo quy định của pháp luật hiện nay, các dịch vụ tài chính ngân hàng bao gồm cho vay, chiết khấu, phát hành thẻ tín dụng, bảo lãnh ngân hàng, cho thuê tài chính thì không phải chịu thuế giá trị gia tăng.

Do đó, để xác định tính hợp lý của việc áp dụng thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động thư tín dụng thì cần phải xác định liệu hoạt động này có thuộc đối tượng miễn thuế giá trị tăng hay không.

1.2. Quan điểm của Cơ quan thuế

Công văn số 1606/TCT-DNL của Tổng cục thuế cho rằng thư tín dụng (L/C) là hình thức cung ứng dịch vụ thanh toán, do vậy sẽ không thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng đã nêu trên. Tổng cục thuế cũng yêu cầu Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương rà soát, hướng dẫn các tổ chức tín dụng trên địa bàn quản lý có phát sinh hoạt động cung cấp dịch vụ L/C thì thực hiện kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng theo đúng quy định.

Theo đó, cơ quan thuế cho rằng L/C là hình thức thanh toán qua tài khoản, hoạt động dịch vụ chứ không phải hình thức tín dụng. Do đó L/C không thuộc đối tượng không chịu thuế và yêu cầu rà soát và tính thuế giá trị gia tăng.

Cơ quan Thuế cho rằng theo quy định của Khoản 15 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng hiện nay thì Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản là việc cung ứng phương tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng.

Cũng căn cứ theo Luật Các tổ chức tín dụng, nếu là hoạt động bảo lãnh hay cho vay thì chắc chắn không phải nộp thuế giá trị gia tăng, nhưng nếu là dịch vụ thì phải thực hiện khai và nộp thuế theo luật định. Vấn đề cung ứng dịch vụ thanh toán L/C được quy định rất rõ tại khoản 15, Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng. Trong trường hợp này, cơ quan thuế không thể quyết định có thu thuế hay không thu thuế, mà chỉ thực hiện theo quy định của pháp luật.

1.3. Quan điểm của Hiệp hội ngân hàng Việt Nam

Trong khi đó, hiệp hội ngân hàng Việt Nam cho rằng đối với nghiệp vụ thư tín dụng chứng từ và thông lệ quốc tế, L/C về bản chất là bảo lãnh thanh toán. Như vậy, khi một ngân hàng cung cấp dịch vụ bảo lãnh thanh toán thì được coi là hình thức cấp tín dụng. thuế GTGT đối với dịch vụ thư tín dụng

Theo khoản 14 điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2010 quy định: Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.

Ngoài việc áp dụng thu thuế giá trị gia tăng là không đúng bản chất của thư tín dụng. Nếu tiến hành truy thu thuế giá trị gia tăng đối với các khoản thu liên quan đến thư tín dụng phát sinh từ đầu năm 2011 đến nay sẽ làm ảnh hưởng đến hoạt động của các ngân hàng thương mại. Bên cạnh đó, việc nộp bổ sung thuế giá trị gia tăng dịch vụ thư tín dụng đã phát sinh thì phải thu lại từ khách hàng, phát sinh một loạt chi phí xã hội do phải điều chỉnh hóa đơn, số liệu về kê khai, nộp thuế, khấu trừ thuế. thuế GTGT đối với dịch vụ thư tín dụng

Do đó, hiệp hội ngân hàng Việt Nam kiến nghị Bộ Tài chính chỉ đạo Tổng cục Thuế hướng dẫn các Cục Thuế địa phương không áp dụng thuế giá trị gia tăng đối với nghiệp vụ phát hành thư tín dụng và các khoản phí có liên quan đến quy trình cấp tín dụng thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng.

Thuế Giá Trị Gia Tăng Trong Hoạt động Tín Dụng

2. Thuế giá trị gia tăng là gì

Theo quy định của Luật thuế giá trị gia tăng thì thuế giá trị gia tăng là một loại thuế gián thu đánh trên khoản giá trị tăng thêm cuả hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng và được nộp vào ngân sách Nhà nước theo mức độ tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ.

(Thuế gián thu người nộp thuế không là người chịu thuế.)

Ðây là một loại thuế đánh vào mỗi giai đoạn sản xuất, lưu thông sản phẩm hàng hoá, từ khi còn là nguyên liệu thô sơ cho đến sản phẩm hoàn thành, và cuối cùng là giai đoạn tiêu dùng. Chính vì vậy mà chúng ta còn gọi là thuế doanh thu có khấu trừ số thuế đã nộp ở giai đoạn trước. Thuế gía trị gia tăng được cộng vào giá bán hàng hoá, dịch vụ, và do người tiêu dùng chịu khi mua hàng hoá, sử dụng dịch vụ.

Trên đây là bài viết cung cấp thông tin về Thuế giá trị gia tăng trong hoạt động tín dụng mà ACC muốn gửi gắm tới các bạn. Hy vọng bài viết sẽ hữu ích với quý bạn đọc. Trong quá trình tìm hiểu nếu như quý khách hàng còn thắc mắc hay quan tâm và có nhu cầu được tư vấn về vấn đề trên, vui lòng liên hệ với ACC nhé!

Nội dung bài viết:

    Hãy để lại thông tin để được tư vấn

    comment-blank-solid Bình luận

    084.696.7979 19003330 Báo giá Chat Zalo