1. Tổng quan về thao túng thị trường chứng khoán
Hiện hành vi thao túng trên thị trường chứng khoán chưa được định nghĩa cụ thể. Dưới nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau, các nhà nghiên cứu và chuyên gia pháp lý ở các quốc gia khác nhau đã đưa ra những nhận định về thế nào được coi là thao túng thị trường chứng khoán. Theo Putnins (2009)1, thao túng thị trường chứng khoán là việc sử dụng các phương tiện lừa đảo để tạo ra các mối quan hệ cung cầu giả và giá chứng khoán giả. Thao túng thị trường là một hình thức lạm dụng thị trường như lan truyền thông tin sai lệch về thị trường, nhập lệnh mua và bán cho cùng một chứng khoán ở cùng một mức giá và che giấu tỷ lệ sở hữu khi báo cáo pháp lý yêu cầu.
Trong khi đó, Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch Hoa Kỳ (SEC) định nghĩa thao túng thị trường là bất kỳ sự can thiệp nào vào cơ chế thị trường ngăn cản việc xác định giá hợp lý và bất kỳ yếu tố nào khác có thể ảnh hưởng giả tạo đến giá cổ phiếu2. Theo đó, có thể xác định thao túng thị trường là hành vi có chủ ý và có kế hoạch nhằm kiểm soát hoặc tác động đến nhà đầu tư trên một thị trường chứng khoán cụ thể. Thao túng thị trường thường đề cập đến các hoạt động can thiệp vào cung và cầu của cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, tạo ra giá cổ phiếu giả và lừa dối những người tham gia thị trường.
Theo Kaming (2010), thao túng thị trường đề cập đến các hoạt động bóp méo giá cả và cho phép kẻ thao túng thu lợi nhuận trên cơ sở tổn thất của những người tham gia thị trường khác. Trong một môi trường bị thao túng, giá cả không phản ánh "sức khỏe" hiện tại của nền kinh tế.
Như vậy, có nhiều định nghĩa khác nhau về thao túng chứng khoán. Tuy nhiên, nghiên cứu đã chỉ ra rằng có ba loại thao túng cơ bản.
(i) Hành động cố gắng thay đổi giá cổ phiếu thông qua hành động giá thực tế để thay đổi dòng tiền trong tương lai3. Để ngăn chặn hành vi này, các cơ quan quản lý thường quy định việc các giám đốc và người nội bộ sử dụng thông tin không được tiết lộ trên thị trường để thực hiện các giao dịch là bất hợp pháp; quy định một khoảng thời gian nắm giữ nhất định đối với cổ phiếu của các chủ thể này, được tính kể từ ngày cổ phiếu được niêm yết. và được giao dịch.
(ii) Thao túng dựa trên thông tin để thay đổi giá bằng cách đưa ra tin đồn hoặc thông tin sai lệch. Để hạn chế vấn đề này, cơ quan quản lý thường yêu cầu tổ chức phát hành phải công bố thông tin định kỳ ra công chúng theo nội dung quy định của pháp luật.
(iii) thao túng dựa trên thương mại, xảy ra khi các nhà đầu tư cố gắng thao túng giá bằng cách mua và bán cổ phiếu mà không tiết lộ công khai việc thực hiện giao dịch. Loại thao túng này rất khó ngăn chặn vì nó chủ yếu liên quan đến các hành vi bên ngoài thị trường nên rất khó xác định thao túng là gì.
Tại Việt Nam, Luật Chứng khoán vẫn chưa đưa ra định nghĩa cụ thể về thao túng chứng khoán. Tuy nhiên, Điều 12 Luật Chứng khoán 2019 quy định hành vi thao túng chứng khoán bị cấm trong hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán. Theo đó, hành vi thao túng giá chứng khoán được xác định bao gồm: (i) Sử dụng một hoặc nhiều tài khoản giao dịch của mình hoặc của người khác hoặc thông đồng mua, bán chứng khoán nhằm tạo ra quan hệ cung cầu, tạo cầu một cách giả tạo; Mua, bán chứng khoán và thao túng giá chứng khoán; (3) Kết hợp hoặc sử dụng các phương thức giao dịch khác hoặc kết hợp tung tin đồn thất thiệt, cung cấp thông tin sai sự thật ra công chúng để thao túng giá chứng khoán.
Trong khi đó, Điều 3 khoản 2 Nghị định số 156/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán, thao túng thị trường chứng khoán là hành vi bị nghiêm cấm. Luật Chứng khoán Hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán quy định tại khoản 3 Điều 12 bao gồm một, một số hoặc tất cả các hành vi sau đây:
(i) Sử dụng một hoặc nhiều tài khoản giao dịch của mình hoặc của người khác hoặc thông đồng với nhau để mua, bán chứng khoán liên tục, tạo ra quan hệ cung cầu một cách giả tạo.
(2) Mua bán chứng khoán cùng loại trong cùng ngày giao dịch hoặc thông đồng mua bán chứng khoán mà không thực sự chuyển quyền sở hữu hoặc chỉ mua bán lần lượt giữa các thành viên với nhau, các thành viên trong nhóm cùng tạo giá chứng khoán, giả tạo. cung và cầu.
(iii) tiếp tục mua hoặc bán chứng khoán với khối lượng vượt trội khi thị trường mở cửa hoặc đóng cửa để tạo ra giá đóng cửa hoặc giá mở cửa mới cho chứng khoán đó trên thị trường.
(4) Mua, bán chứng khoán dưới hình thức thông đồng, dụ dỗ người khác đặt lệnh mua, bán chứng khoán liên tiếp làm ảnh hưởng lớn đến cung cầu và giá chứng khoán, thao túng giá chứng khoán.
(v) Bày tỏ ý kiến về chứng khoán hoặc tổ chức phát hành chứng khoán trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các phương tiện thông tin đại chúng nhằm tác động đến giá của chứng khoán đó sau khi có quyết định, hiện đang giao dịch và nắm giữ vị thế đối với chứng khoán đó.
(6) Thao túng giá chứng khoán bằng các thủ đoạn, thực hiện các hành vi mua bán khác hoặc kết hợp tung tin đồn thất thiệt, cung cấp thông tin sai sự thật ra công chúng để giả tạo quan hệ cung cầu.
Do đó, xét từ các quy định về thao túng chứng khoán, có thể định nghĩa thao túng chứng khoán là hành vi gian lận nhằm ngăn cản việc xác định giá thực tế của thị trường chứng khoán, tạo cung cầu giả tạo, tác động đến giá chứng khoán để đánh lừa nhà đầu tư, gây thiệt hại cho thị trường chứng khoán. thị trường chứng khoán.
2. Thực trạng pháp luật chứng khoán về quản lý thao túng thị trường chứng khoán
Việc xác định và phát hiện hành vi thao túng trên thị trường chứng khoán là khá khó khăn. Vì vậy, pháp luật chứng khoán không ngừng được hoàn thiện nhằm tăng cường khả năng quản lý và trừng trị các hành vi thao túng thị trường chứng khoán. Tương ứng, Luật Chứng khoán 2019, Nghị định 156/2020/NĐ-CP, BLHS 2015 có nhiều quy định mới điều chỉnh hành vi thao túng thị trường chứng khoán.
Pháp luật chứng khoán đã quy định thao túng chứng khoán là hành vi bị cấm, đồng thời cũng đã nhận diện hành vi này.
Căn cứ Điều 12 Khoản 3 Luật Chứng khoán 2019 và Điều 3 Khoản 2 Nghị định 156/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán, xác định 6 hành vi như sau : Thao túng thị trường chứng khoán. Quy định rõ ràng sẽ giúp cơ quan quản lý có cơ sở pháp lý để xác định hành vi thao túng chứng khoán, từ đó có cơ sở điều tra, phát hiện và xử lý.
Luật Chứng khoán tăng cường xử phạt hành chính đối với tổ chức, cá nhân thao túng chứng khoán.
Trên thực tế, hậu quả của hành vi thao túng chứng khoán là rất lớn, nhưng chế tài xử phạt đối với hành vi thao túng chứng khoán đã được quy định tại Nghị định số 108/2013/NĐ-CP ngày 23/09/2013. Nghị định số 145/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 11 năm 2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 108/2013/NĐ-CP còn thấp. Theo quy định trước đây, trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán, mức phạt tối đa đối với tổ chức vi phạm là 2 tỷ đồng, mức phạt tối đa đối với cá nhân vi phạm là 1 tỷ đồng. Quy định này được đánh giá là chưa tương xứng với mức độ nghiêm trọng của hành vi nên không đảm bảo tính răn đe.
Nhằm tăng tính răn đe đối với hành vi thao túng chứng khoán, Luật Chứng khoán 2019 đã tăng mức phạt vi phạm hành chính tối đa lên 10 lần mức thu nhập bất hợp pháp. Đồng thời, quy định đã có hướng dẫn cụ thể tại Nghị định số 156/2020/NĐ-CP. Tương ứng, mức độ xử phạt hành chính đối với hành vi thao túng chứng khoán cũng tăng lên đáng kể. Theo Điều 36 Nghị định 156/2020/NĐ-CP, các hành vi thao túng thị trường chứng khoán sẽ bị xử phạt nặng. Cụ thể, phạt tiền gấp 10 lần số thu nhập bất hợp pháp nhưng không thấp hơn mức tiền phạt tối đa quy định tại Điều 5 Khoản 2 Nghị định 156/2020/NĐ-CP nhưng không vượt quá mức phạt đã áp dụng đối với hành vi thao túng Thị trường chứng khoán. truy tố hình sự. Trường hợp không có thu nhập bất hợp pháp hoặc số tiền phạt tính theo khoản thu nhập bất hợp pháp thấp hơn mức tiền phạt tối đa quy định tại Khoản 2 Điều 5 Nghị định 156/2020/NĐ-CP thì áp dụng mức tiền phạt tối đa. .Nghị định 156/2020/NĐ-CP Xử phạt theo quy định tại Điều 5 khoản 2 Nghị định. Mức phạt vi phạm hành chính tối đa đối với các vi phạm này là 3 tỷ đồng đối với tổ chức và 1,5 tỷ đồng đối với cá nhân.
Ngoài ra, về hình thức xử phạt bổ sung, Nghị định 156/2020/NĐ-CP quy định rõ đình chỉ công ty, dịch vụ chứng khoán từ 1 đến 3 tháng, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, công ty chứng khoán hoặc công ty nước ngoài công ty quản lý quỹ Chi nhánh tại Việt Nam đã vi phạm các quy định nêu trên. Người hành nghề chứng khoán vi phạm quy định trên thì bị tước quyền sử dụng chứng chỉ người hành nghề chứng khoán từ 18 tháng đến 24 tháng (khoản 1 Điều 36). Về biện pháp khắc phục hậu quả, tổ chức, cá nhân vi phạm sẽ bị buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thao túng chứng khoán (Điều 36 Khoản 1).
Do đó, với việc tăng đáng kể mức xử phạt hành chính đối với hành vi thao túng chứng khoán, các hình phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả cũng được áp dụng đối với các công ty chứng khoán, quỹ đầu tư chứng khoán và các tổ chức bên liên quan khác có khả năng điều phối hoạt động thao túng chứng khoán. quỹ, người hành nghề chứng khoán… sẽ góp phần tăng cường tính răn đe của pháp luật, từ đó ngăn chặn tình trạng thao túng thị trường chứng khoán.
Luật Chứng khoán 2019 tăng cường quyền hạn của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) trong việc thu thập thông tin để hỗ trợ điều tra và phát hiện sớm hành vi thao túng thị trường chứng khoán.
Trước đây, “Luật Chứng khoán” sửa đổi năm 2006 và 2010 quy định thẩm quyền thanh tra, kiểm tra và xử lý hành vi vi phạm pháp luật của TTCK là chưa đáp ứng yêu cầu quản lý, giám sát và thực thi pháp luật trên thị trường chứng khoán. Theo đó, pháp luật thực hiện giám sát ở hai cấp độ: Tại Sở giao dịch chứng khoán tuyến đầu, nếu phát hiện dấu hiệu bất thường sẽ báo cáo Ủy ban Điều tiết chứng khoán Nhà nước để kiểm tra, rà soát, thu thập thông tin và xử lý theo quy định. Đồng thời, UBCKNN không có quyền yêu cầu cá nhân, tổ chức cung cấp thông tin; đến làm việc để giải trình và cung cấp tài liệu. Do đó, UBCKNN gặp nhiều khó khăn trong việc thu thập thông tin, xác minh, làm rõ và xử lý các hành vi thao túng thị trường. Để khắc phục hạn chế này, Mục 130 Luật Chứng khoán 2019 bổ sung một số quyền cho UBCKNN như: (i) Yêu cầu tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu, số liệu hoặc yêu cầu tổ chức, cá nhân giải trình, trình bày. chuyển tiếp Công việc liên quan đến nội dung thanh tra, kiểm tra; (ii) Yêu cầu các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng tại Việt Nam cung cấp thông tin liên quan đến giao dịch tài khoản của khách hàng trong trường hợp có dấu hiệu vi phạm các hành vi bị cấm trong hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán; (3) Yêu cầu Công ty Viễn thông cung cấp các thông tin như tên, địa chỉ, số gọi đến, số bị gọi, thời gian gọi để kiểm tra, xử lý các hành vi bị cấm.
Theo đó, Luật Chứng khoán 2019 đã tăng cường một số quyền hạn của Ủy ban Chứng khoán Quốc gia trong việc điều tra hành vi thao túng chứng khoán. Đặc biệt, thẩm quyền của nó trong việc thu thập dòng tiền của nhà đầu tư là đáng ngờ. Vì từ dấu hiệu của nghi phạm cho đến khi có đủ chứng cứ để xử lý sẽ khó chứng minh hơn. Ví dụ, để chứng minh có sự thông đồng khi nghi vấn giao dịch làm giá chứng khoán, UBCKNN phải có dữ liệu như báo cáo chuyển tiền, trao đổi e-mail, điện thoại liên lạc. Tại một số nước trên thế giới, Ủy ban điều tiết chứng khoán Nhà nước còn có quyền trả lời điện thoại, phối hợp với cơ quan công an để xác minh giao dịch của hai bên trong ngày giao dịch nếu có cơ sở xác minh. Do đó, quy định mới của Luật Chứng khoán 2019 về việc bổ sung thẩm quyền giám sát, kiểm tra các hành vi thao túng giá của Ủy ban Điều tiết Chứng khoán Nhà nước là phù hợp với thông lệ quốc tế và yêu cầu thực tiễn, đồng thời sẽ giúp nâng cao hiệu quả quản lý của Ủy ban Điều tiết Chứng khoán Nhà nước. trong điều tra, thanh tra các hành vi thao túng giá. Xử lý thao túng chứng khoán.
Ngoài ra, Điều 131 “Luật Chứng khoán” 2019 cũng quy định rõ trách nhiệm phối hợp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc kiểm tra, rà soát và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trên thị trường chứng khoán. Vì vậy, với quy định mới của “Luật chứng khoán” năm 2019, Ủy ban điều tiết chứng khoán Trung Quốc sẽ tiến hành giám sát ở 3 cấp độ: bắt đầu từ công ty chứng khoán, trong quá trình cung cấp dịch vụ cho khách hàng, nếu phát hiện có dấu hiệu giao dịch bất thường, họ sẽ chịu trách nhiệm báo cáo cho công ty chứng khoán. Sở giao dịch chứng khoán và Ủy ban điều tiết chứng khoán Nhà nước, điều này phù hợp với thông lệ quốc tế. Cơ quan đăng ký chứng khoán không phải là đơn vị trực tiếp theo dõi giao dịch mà là cơ quan cung cấp dữ liệu để UBCKNN có thông tin phân tích.
Truy cứu trách nhiệm hình sự về tội thao túng thị trường chứng khoán
Không chỉ bị xử lý vi phạm hành chính, tổ chức, cá nhân thao túng thị trường chứng khoán còn có thể bị xử lý hình sự. BLHS năm 2015 đã có nhiều quy định cụ thể hơn về các tội phạm trong lĩnh vực chứng khoán so với trước đây. Chẳng hạn, Điều 211 quy định rõ, người nào có một trong các hành vi liệt kê tại các điểm a, b, c, d, đ và e khoản 1 Điều 211 thì thu lợi bất hợp pháp do thao túng thị trường chứng khoán. 500 triệu đồng đến dưới 1,5 tỷ đồng hoặc thiệt hại cho nhà đầu tư từ 1 tỷ đồng đến 3 tỷ đồng
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, pháp luật chứng khoán cũng bộc lộ một số tồn tại, hạn chế trong việc quản lý hành vi thao túng thị trường chứng khoán.
Luật Chứng khoán chưa định nghĩa hành vi thao túng chứng khoán, đồng thời quy định về xác định hành vi thao túng chứng khoán cũng chưa thống nhất nên khó áp dụng.
Hiện hành vi thao túng chứng khoán chưa được định nghĩa cụ thể. Khoản 3 Điều 12 Luật Chứng khoán 2019 chỉ quy định các hành vi bị cấm trong hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, Nghị định số 156/2020/NĐ-CP định nghĩa thao túng thị trường chứng khoán. Định nghĩa này tương tự như định nghĩa về tội thao túng thị trường chứng khoán tại Điều 211 Khoản 1 BLHS 2015. Vì vậy, với tư cách là một luật chuyên biệt về chứng khoán, Luật Chứng khoán 2019 cần có định nghĩa cụ thể riêng về tội thao túng chứng khoán để tương thích và thống nhất với quy định của Bộ luật Hình sự 2015 và Nghị định số 156/2020/NĐ-NĐ. CP.
Việc định nghĩa rõ ràng, mô tả cụ thể hành vi thao túng thị trường chứng khoán sẽ giúp cơ quan quản lý, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, tổ chức lưu ký chứng khoán và các chủ thể có liên quan, sở giao dịch chứng khoán, sở giao dịch chứng khoán nhận diện rõ hành vi thao túng để có biện pháp xử lý kịp thời. có thể được thực hiện. Thao túng chứng khoán là hành vi rất khó nhận biết và xử lý, đồng thời mức độ thiệt hại cho nhà đầu tư là rất lớn, thậm chí nhiều trường hợp không thể xác định chính xác thiệt hại của nhà đầu tư. Vì vậy, “Luật Chứng khoán” 2019 cần có định nghĩa, mô tả riêng, rõ ràng về hành vi thao túng thị trường chứng khoán.
Luật Chứng khoán không quy định cụ thể về định nghĩa “dấu hiệu quan hệ tài khoản” nên thiếu cơ sở pháp lý để xử lý vi phạm.
Để có thể phán đoán có hành vi thao túng chứng khoán hay không, chủ yếu dựa vào dấu hiệu cung cầu giá do các tổ chức, cá nhân thao túng mở nhiều tài khoản tại các công ty chứng khoán xác lập. Xét từ thực tế các vụ việc thao túng chứng khoán cho thấy, tổ chức, cá nhân thao túng sẽ mở nhiều tài khoản chứng khoán để thực hiện giao dịch. Vì vậy, khi cơ quan quản lý điều tra, xử lý hành vi thao túng, phần lớn sẽ yêu cầu xác định “các tài khoản có dấu hiệu quan hệ liên kết” tại các công ty chứng khoán.
Hiện tại, Luật Chứng khoán 2019 và các văn bản hướng dẫn chưa có quy định cụ thể về việc xác định tài khoản có dấu hiệu liên kết. Do đó, rất khó để quy trách nhiệm cho các công ty chứng khoán trong việc xác định hoặc trong nhiều trường hợp thông đồng thao túng chứng khoán. Do đó, cơ quan quản lý thường dựa vào nhiều dấu hiệu để điều tra các tài khoản có dấu hiệu liên quan như yêu cầu một người là người đại diện theo pháp luật của nhiều công ty; một cá nhân là thành viên góp vốn, cổ đông của nhiều công ty hoặc công ty có cùng địa chỉ trụ sở chính; hay cá nhân, tổ chức sử dụng chung một địa chỉ IP để đặt lệnh giao dịch chứng khoán... Do đó, công ty chứng khoán cần theo dõi các dấu hiệu bất thường và chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu phát hiện các sai phạm đó.
Nhưng trên thực tế, pháp luật hiện hành không có quy định nào cấm hoặc cho phép một cá nhân làm người đại diện theo pháp luật của nhiều công ty (trừ công ty đại chúng) và/hoặc cấm một cá nhân trở thành thành viên góp vốn/cổ đông của nhiều công ty. Nhiều doanh nghiệp và/hoặc doanh nghiệp và/hoặc cá nhân, tổ chức có cùng địa chỉ trụ sở chính không được sử dụng cùng một địa chỉ IP để đặt lệnh giao dịch chứng khoán. Nếu đây là trường hợp, chủ thể độc lập về tư cách pháp lý và trách nhiệm pháp lý trước bên thứ ba và pháp luật.
Do đó, việc dựa vào sự trùng lặp về vị trí địa lý nên việc sử dụng hình thức pháp nhân đầu tư làm căn cứ xác định “mối quan hệ đan xen” là không hợp pháp, không có cơ sở chứng minh rõ ràng là “có liên quan” hay “có liên quan”. có liên quan". Bản chất "có liên quan" của những vấn đề này. Vì vậy, việc thiếu cơ sở pháp lý rõ ràng sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của nhà đầu tư và công ty chứng khoán.
Chế tài thao túng thị trường chứng khoán chưa đủ sức răn đe
Mặc dù Nghị định 156/2020/NĐ-CP và BLHS 2015 đã đưa ra nhiều điểm mới và tăng chế tài đối với hành vi thao túng chứng khoán nhưng so với lợi ích mà hành vi thao túng chứng khoán mang lại thì vẫn còn thấp nên chưa thực sự răn đe và đảm bảo tính răn đe . Trên thực tế, từ năm 2011 đến năm 2020, chỉ có ba trường hợp trở thành tội phạm thao túng giá cổ phiếu. Tuy nhiên, để xử lý hình sự hành vi thao túng giá chứng khoán trái phép, cơ quan điều tra phải chứng minh được cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi đó đã thu lợi bất chính ít nhất 500 triệu đồng và gây thiệt hại cho nhà đầu tư ít nhất 1 tỷ đồng. Nhưng trên thực tế, có nhiều trường hợp thao túng giá cổ phiếu không phải vì lợi nhuận trực tiếp mà vì lợi nhuận gián tiếp, và việc chứng minh mức độ thiệt hại của nhà đầu tư là rất phức tạp5.
Ngoài ra, hành vi thao túng thị trường chứng khoán đã bị xử phạt hành chính cũng không đáng kể6. Mức độ xử phạt cũng không tương xứng với thiệt hại do hành vi này gây ra. Số tiền xử phạt thao túng giá chứng khoán chiếm hơn 25% tổng số tiền phạt trong năm 2018, lập kỷ lục về xử phạt thao túng giá chứng khoán. hàng năm. Tuy nhiên, theo số liệu từ Ủy ban Điều tiết Chứng khoán Nhà nước, tính đến ngày 18/12/2018, chỉ có 9 người bị xử lý hành chính về hành vi thao túng giá chứng khoán trái pháp luật, với mức phạt tối đa là 5,1 tỷ đồng7. Đồng thời, mỗi khi phát hiện trường hợp thao túng giá, ước tính thiệt hại của nhà đầu tư sẽ lớn gấp mấy lần. Mặc dù đã tăng mức xử phạt đối với hành vi thao túng thị trường chứng khoán, nhưng mức xử phạt hiện nay còn tương đối thấp, hiệu quả răn đe chưa cao.
Luật chứng khoán chưa có chế tài xử lý công ty bị thao túng cổ phiếu
Hiện tại, luật chứng khoán không xử phạt các công ty có cổ phiếu bị thao túng giá. Thực tế thị trường cho thấy, có nhiều trường hợp thao túng giá cổ phiếu không phải vì lợi nhuận trực tiếp mà vì lợi nhuận gián tiếp. Đồng thời, có nhiều trường hợp lãnh đạo công ty hoặc cổ đông lớn thông đồng, thậm chí cố ý thao túng giá cổ phiếu. Nghị định 156/2020/NĐ-CP chỉ quy định xử phạt bổ sung hành vi thao túng thị trường chứng khoán, vi phạm giao dịch, nắm giữ chứng khoán của nhà đầu tư trong trường hợp nhà đầu tư mượn tài khoản của người khác để giao dịch, nắm giữ chứng khoán đứng tên nhà đầu tư. người gây ra hành vi thao túng thị trường chứng khoán mà không có quy định xử phạt đối với công ty có cổ phiếu bị thao túng. Vì vậy, cần có cơ chế buộc công ty giải trình tính hợp lý của việc tăng trần giá nhiều ngày giao dịch liên tiếp hoặc buộc công ty đưa ra các cảnh báo cho nhà đầu tư trái với thực tế hoạt động kinh doanh khi giá cổ phiếu tăng cao”. nóng". Điều này làm rõ nghĩa vụ của công ty có cổ phiếu bị thao túng và làm rõ hình thức xử phạt công ty có cổ phiếu bị thao túng, có lợi cho việc đảm bảo công bằng cho nhà đầu tư, đồng thời cũng là cơ sở để điều tra và xử phạt hành vi thao túng cổ phiếu.
3. Đề xuất hoàn thiện Luật Quản lý Thao túng Thị trường Chứng khoán
Luật Chứng khoán 2019 cần định nghĩa cụ thể về thao túng chứng khoán về mặt từ ngữ và mô tả cụ thể về thao túng chứng khoán để thống nhất với quy định của Luật Hình sự 2015 và Nghị định số 156/2020/NĐ-CP.
Đồng thời, “Luật Chứng khoán” 2019 cần bổ sung quy định để giải thích rõ ràng về “tài khoản có dấu hiệu quan hệ liên kết”, tạo cơ sở pháp lý cho việc xây dựng quy định của cơ quan có thẩm quyền, phát hiện các dấu hiệu bất thường từ các giao dịch trên thị trường, và kịp thời phát hiện sớm các hành vi thao túng chứng khoán. Theo đó, quyền lợi của các nhà đầu tư trên thị trường được đảm bảo, đồng thời quy trách nhiệm cho các chủ thể có liên quan như công ty chứng khoán, công ty lưu ký và các tổ chức trung gian khác.
Tăng hình phạt thao túng thị trường chứng khoán Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm của một số nước trên thế giới. Tại Hoa Kỳ, Đạo luật Chứng khoán năm 1933 và Đạo luật Giao dịch Chứng khoán Hoa Kỳ năm 1934 quy định rằng việc thao túng giá cổ phiếu để giao dịch có thể dẫn đến phạt tiền hoặc phạt tù hoặc cả hai. Do đó, tiền phạt không được vượt quá 1 triệu USD hoặc gấp 3 lần khoản lãi/lỗ tránh được do vi phạm. Ngoài ra, các công ty chứng khoán, công ty tài chính có thể bị thu hồi giấy phép kinh doanh, trường hợp nghiêm trọng có thể bị cấm tham gia vĩnh viễn vào lĩnh vực tài chính, chứng khoán.
Tại Nhật Bản, các hình phạt chính đối với các giao dịch không công bằng liên quan đến thao túng thị trường được quy định bởi Luật Ngoại hối và Công cụ Tài chính. Theo đó, những người thực hiện hành vi này sẽ bị phạt tù tới 10 năm hoặc phạt tiền tới 10 triệu yên, hoặc cả hai. Tài sản có được do hành vi được đề cập sẽ bị tịch thu.
Tại Hàn Quốc, việc sử dụng thông tin chứng khoán không được tiết lộ để bán cổ phiếu hoặc thao túng giá thị trường bị xử phạt nghiêm khắc theo Đạo luật thị trường vốn. Theo đó, Điều 443 của Đạo luật quy định nếu lợi nhuận thu được từ việc thao túng giá thị trường chứng khoán dưới 100 triệu won sẽ bị phạt tù từ sáu tháng đến không quá một năm. Nếu vượt quá 100 triệu won nhưng dưới 500 triệu won sẽ bị phạt tù từ 1-4 năm. Nếu trên 500 triệu won và dưới 5 tỷ won sẽ bị phạt tù từ 3-6 năm. Nếu vượt quá 5 tỷ won sẽ bị phạt tù từ 5-9 năm trở lên...
Vì vậy, hầu hết các nước trên thế giới đều có quy định hành vi thao túng thị trường chứng khoán sẽ bị phạt tiền rất cao. Những khoản tiền phạt khổng lồ, cũng như trách nhiệm hình sự nặng nề sẽ khiến các tổ chức, cá nhân “lúng túng” khi thực hiện hành vi thao túng thị trường chứng khoán. Đánh giá từ kinh nghiệm của các nước, pháp luật Việt Nam nên tăng hình phạt đối với hành vi thao túng chứng khoán, đồng thời cần bổ sung một số biện pháp “mạnh tay” đối với các công ty chứng khoán, công ty tài chính. Thao túng cá nhân đối với chứng khoán như thu hồi giấy phép, cấm giao dịch chứng khoán vĩnh viễn… giúp nâng cao nhận thức của chủ thể về giao dịch trên thị trường chứng khoán.
Cần tăng chế tài đối với các công ty có cổ phiếu bị thao túng. Vì vậy, pháp luật Việt Nam cần quy định rõ trách nhiệm của công ty khi giá cổ phiếu liên tục tăng vượt quá giới hạn tối đa, đi ngược lại hiệu quả kinh doanh và yêu cầu minh bạch thông tin với cổ đông. Và phải có cơ chế xử phạt khi phát hiện DN có hành vi thao túng giá trên thị trường chứng khoán.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của các cơ quan quản lý chuyên nghiệp nhằm đảm bảo sự ổn định và toàn vẹn của thị trường. Đồng thời, cần thúc đẩy sự hợp tác lẫn nhau của các cơ quan quản lý, sở giao dịch chứng khoán, trung tâm đăng ký chứng khoán trong công tác giám sát, kiểm tra và xử lý vi phạm. Hoàn thiện hơn nữa hệ thống công nghệ thông tin hỗ trợ giám sát và phát hiện sớm nhất các hoạt động vi phạm pháp luật. Tăng cường công khai tới các nhà đầu tư trên thị trường và nâng cao kiến thức pháp luật để tránh thua lỗ trong giao dịch trên thị trường chứng khoán.
Nội dung bài viết:
Bình luận