Thực Trạng Pháp Luật Về Thuế Tiêu Thụ Đặc Biệt (Cập Nhật)

Xã hội ngày càng phát triển với nền kinh tế đang có sự chuyển mình, thuế tiêu thụ đặc biệt ngày càng có vai trò quan trọng hơn, góp thêm một phần vào ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, trên thực tế, vẫn còn tồn tại không ít bất cập xoay quanh vấn đề thực thi pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt. Bài viết dưới đây chúng tôi sẽ phân tích thực trạng pháp luật về thuế tiêu thụ đặc biệt. Mời bạn đọc cùng theo dõi.

Thực Trạng Pháp Luật Về Thuế Tiêu Thụ Đặc Biệt (cập Nhật 2023)

Thực Trạng Pháp Luật Về Thuế Tiêu Thụ Đặc Biệt (Cập Nhật 2023)

1. Những thành tựu đạt được trong quá trình thực thi pháp luật thuế TTĐB

Tổng kết gần 20 năm thực hiện Luật Thuế TTĐB và các Luật sửa đổi, bổ sung đã cho thấy về cơ bản, thuế TTĐB đã đạt được mục tiêu đặt ra là hướng dẫn sản xuất, tiêu dùng của xã hội, điều tiết thu nhập của người tiêu dùng một cách hợp lý, và tăng cường quản lý sản xuất, kinh doanh đối với một số hàng hoá và dịch vụ. Thuế suất cao áp dụng đối với nhiều mặt hàng như thuốc lá, rượu, bia, ôtô du lịch, kinh doanh vũ trường,… không chỉ nhằm mục tiêu động viên nguồn thu cho NSNN mà còn thực hiện vai trò định hướng tiêu dùng. Chính sách miễn, giảm thuế TTĐB được công bố trước theo lộ trình giảm dần bảo hộ đối với doanh nghiệp sản xuất bia hơi, sản xuất, lắp ráp ôtô trong nước,… tạo điều kiện thuận lợi cho việc sắp xếp lại SXKD trong nước và cùng với thuế nhập khẩu đã góp phần vào việc hình thành nên một ngành công nghiệp mới.

Cụ thể, việc thực thi pháp luật thuế TTĐB trên thực tế đã thu được nhiều thành tựu như sau:

+ Nhà nước có những thay đổi phù hợp với các yếu tố khách quan, cân bằng lợi ích giữa lợi ích của Nhà nước và cá nhân. Tạo khung pháp lý cơ bản để việc thi hành thuế TTĐB được diễn ra thuận lợi, không gây bất lợi hoặc gây những cách hiểu khác nhau dẫn tới cách áp dụng khác nhau.

+ Các doanh nghiệp chấp hành khá nghiêm chỉnh việc thực thi pháp luật thuế TTĐB theo các quy định về trình tự kê khai, nộp thuế, tính thuế của pháp luật và việc lưu, giữ các hóa đơn, chứng từ cũng được các doanh nghiệp quan tâm một cách thích đáng để làm căn cứ nộp thuế TTĐB, khấu trừ thuế TTĐB…

+ Thuế TTĐB mặc dù có diện đối tượng chịu thuế thu hẹp nhưng lại có thuế xuất cao hơn các loại thuế gián thu khác vì vậy Thuế TTĐB đem lại được cho Ngân sách nhà nước nguốn thu không nhỏ. Theo thống kê tỷ trọng số thu từ thuế TTĐB lớn thứ tư trong tỷ trọng các số thu từ sắc thuế hiện hành

2. Những hạn chế còn tồn tại trong công tác thực thi pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt

Tồn tại lớn nhất của việc thực thi thuế TTĐB đó là hành vi trốn thuế của các đơn vị sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ là đối tượng bị áp dụng thuế TTĐB. Các đơn vị tìm cách trốn thuế…Việc ấn định thuế được quy định tại điều 25 Nghị định  85/2007/NĐ-CP có thể cao hơn hoặc thấp hơn giá trị thuế TTĐB mà doanh nghiệp, cá nhân phải thực hiện. Điều này dẫn tới hậu quả là nếu tồn tại sự “hợp tác ngầm” giữa cán bộ thu thuế và người nộp thuế sẽ làm thất thoát số thuế TTĐB phải nộp mà không bị xử lý. Việc trốn thuế có thể thực hiện thông qua hành vi chuyển giá, tức là hành vi do các cơ sở kinh doanh thực hiện nhằm thay đổi giá hàng hóa, dịch vụ trong các giao dịch mua, bán giữa các cơ sở kinh doanh có mối quan hệ đặc biệt, với mục đích giảm thiểu tới mức có thể nghĩa vụ thuế của các bên trong giao dịch đối với nhà nước.

Ý thức, văn hóa tôn trọng pháp luật của đội ngũ cán bộ quản lý thuế. Đây là đội ngũ thay mặt cho Nhà nước thực thi pháp luật thuế TTĐB ở thu, kiểm tra việc thi hành của người nộp thuế TTĐB. Vì vậy, ý thức tôn trọng pháp luật của họ sẽ quyết định phần quan trọng tới việc thực thi pháp luật. Hành vi trốn thuế dù tinh vi đến đâu nếu thực hiện kiểm tra một cách triệt để, công minh thì đều có thể tìm ra.

Các văn bản pháp luật gần như không có chế tài xử lý thích đáng đối với đội ngũ cán bộ thuế khi có vi phạm. Đối với những cán bộ đã vi phạm tùy vào mức độ vi phạm mà có mức xử lý phù hợp. Nếu không có các quy định rõ ràng sẽ dẫn tới việc tiếp tay cho hoạt động trốn thuế, hoặc chính bản thân cán bộ sẽ gợi ý cho đối tượng nộp thuế có quen biết cách trốn thuế.

3. Kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về thuế thuế tiêu thụ đặc biệt

Thứ nhất, Bộ Tài chính cần có những nghiên cứu đánh giá cụ thể về việc có nên đánh thuế TTĐB vào khâu lưu thông hay không. Theo quan điểm của chúng tôi, nên thay đổi việc đánh thuế chỉ vào khâu sản xuất hoặc khâu nhập khẩu sang việc đánh thuế vào cả khâu lưu thông vì những lý do sau:

i) Việc thu thuế TTĐB ở cả khâu lưu thông sẽ hạn chế hiệu quả hơn việc gian lận về giá qua các khâu trung gian như từng xảy ra đối với một số chủ thể nộp thuế có quy mô lớn. Trong trường hợp đánh thuế TTĐB vào khâu lưu thông, cho dù các chủ thể nộp thuế thực hiện mua bán lòng vòng qua nhiều khâu, phần giá trị tăng thêm của đồ uống thuộc diện chịu thuế sẽ vẫn phải chịu thuế TTĐB. Như vậy, về lý thuyết, việc gian lận là không thể thực hiện được. Đồng thời, việc đánh thuế TTĐB vào khâu lưu thông sẽ đòi hỏi các chủ thể kinh doanh đồ uống thuộc diện chịu thuế có trách nhiệm trong việc đảm bảo hàng hóa đầu vào của mình đã có thuế TTĐB.

ii) Về bản chất, việc đánh thuế TTĐB có mục đích hạn chế tiêu dùng, do đó, ngoài sản xuất thì khâu lưu thông chính là điều kiện quan trọng để hàng hóa đó đến tay người tiêu dùng. Do đó, muốn hạn chế tiêu dùng hiệu quả thì cần đánh thuế TTĐB ở cả khâu lưu thông mới đảm bảo đúng bản chất của thuế TTĐB.

iii) Mặc dù quy định hiện hành cũng phần nào hạn chế được tình trạng mua bán giá thấp giữa cơ sở sản xuất với cơ sở phân phối mà do cơ sở sản xuất đó có quyền chi phối, tuy nhiên, điều này đòi hỏi sự giám sát khá chặt và thường xuyên của các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền. Trong trường hợp có sự “thỏa thuận ngầm” về việc phân chia lợi ích (từ số thuế TTĐB tránh được) giữa cơ sở sản xuất với cơ sở thương mại không có quan hệ chi phối, thì cơ quan quản lý nhà nước không dễ dàng xử lý được.

Thứ hai, nên sử dụng phương pháp tính thuế trên doanh thu đối với các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ và đánh thuế ở đại lý thu mua, cũng như xác định những trường hợp quy mô nhỏ được miễn thuế. Cụ thể như sau:

i) Trong trường hợp không áp dụng biện pháp thu thuế thông qua tem thì để đảm bảo việc thu thuế TTĐB hiệu quả ở các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ cần quy định rõ việc đánh thuế dựa trên doanh thu và tỷ lệ trên doanh thu. Việc đánh thuế trên doanh thu cho phép cơ quan quản lý thuế được quyền khoán doanh thu để tính thuế, như thế ở chừng mực nhất định sẽ đảm bảo được số thu dự kiến, tránh tình trạng thất thoát gần như hoàn toàn nguồn thu thuế TTĐB.

ii) Có thể xem xét việc quy định các cơ sở thu mua từ các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ là chủ thể nộp thuế thay cho cơ sở sản xuất, nếu không thực hiện việc đánh thuế TTĐB ở cả khâu lưu thông. Với quy định này, cơ quan quản lý thuế chỉ việc “nắm” các cơ sở thu mua đầu mối, còn thỏa thuận về việc chịu thuế sẽ do cơ sở thu mua và cơ sở sản xuất tự dàn xếp trong giá bán hàng hóa, dịch vụ. Điều đó sẽ đảm bảo đồ uống khi bán ra thị trường đã phải chịu thuế TTĐB.

iii) Nên xem xét cân nhắc việc miễn thuế TTĐB cho các chủ thể sản xuất có quy mô quá nhỏ, sản xuất ở mức tiêu thụ gia đình không có bản chất kinh doanh rõ ràng. Hiện nay, đối với thuế GTGT, các chủ thể kinh doanh có doanh thu dưới 100 triệu đồng/năm thì hàng hóa đó không thuộc diện chịu thuế GTGT nhưng lại vẫn chịu thuế TTĐB. Để đúng bản chất, việc những hàng hóa, dịch vụ chịu thuế TTĐB nên chịu thuế, nhưng chủ thể kinh doanh do có mức doanh thu và thu nhập thấp sẽ được miễn thuế. Tuy nhiên, danh sách miễn thuế này cần được xác minh và quyết định một cách công bằng, có đánh giá của từng năm chứ không phải áp dụng vĩnh viễn.

Thứ ba, cần mở rộng cơ sở thuế để đảm bảo điều tiết hiệu quả, phù hợp với thông lệ quốc tế cũng như nhu cầu tăng thu ngân sách nội địa hiện nay.

Mở rộng cơ sở thuế hiện nay là một phần của chiến lược cải cách hệ thống thuế Việt Nam nhằm đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn và phù hợp với thông lệ quốc tế. Đối với thuế TTĐB đối với đồ uống, dư địa để mở rộng cơ sở thuế là còn khá nhiều vì những đồ uống bị đánh thuế còn khá hạn chế. Theo quan điểm của chúng tôi, cần bổ sung các đối tượng chịu thuế là đồ uống sau đây:

i) Nên đánh thuế đối với đồ uống có đường, kể cả loại có ga hoặc không ga vì đây là những đồ uống có hại cho sức khỏe cộng đồng, đặc biệt là làm gia tăng tình trạng béo phì hoặc bị tiểu đường (trừ một vài loại đồ uống là thức ăn dinh dưỡng cho trẻ em hoặc nuôi dưỡng người bệnh theo chỉ định của Bộ Y tế). Hiện nay, đa số các nước trên thế giới, kể các nhiều quốc gia ở Đông Nam Á đã đánh thuế TTĐB đối với đồ uống có đường, hàm lượng từ 0,5% trở lên với lý do tương tự. Nguồn thu từ thuế TTĐB đối với đồ uống có đường sẽ dành một phần để thực hiện các chương trình phòng chống bệnh tiểu đường, béo phì và các bệnh lý khác có liên quan.

ii) Thuế TTĐB nên đánh với các loại sản phẩm khô có thể pha chế thành đồ uống thuộc diện chịu thuế sử dụng trực tiếp mà không qua chế biến thành sản phẩm thương mại như cồn etylic khô, các hỗn hợp thể rắn hoặc lỏng mà sau khi pha chế với nước có thể trở thành đồ uống thuộc diện chịu thuế. Như vậy mới đảm bảo không bị tránh thuế từ việc cô đặc dung dịch đồ uống với mục đích để người tiêu dùng tự pha chế thành đồ uống.

Thứ tư, nên quy định đa dạng loại thuế suất và có mức thuế suất đồng nhất hơn giữa các loại đồ uống.

Thứ năm, nên bổ sung việc thu thuế thông qua phát hành tem thuế để đảm bảo chống thất thu.

Thứ sáu, cần bãi bỏ quy định về việc giảm thuế TTĐB đối với người nộp thuế gặp khó khăn do thiên tai, tai nạn bất ngờ và miễn thuế cho cơ sở sản xuất nhỏ.

Trên đây là nội dung phân tích về thực trạng pháp luật về thuế tiêu thụ đặc biệt. Hy vọng bài viết mang lại nhiều thông tin hữu ích với bạn đọc. Nếu có vướng mắc phát sinh, bạn đọc vui lòng liên hệ với chúng tôi để được hỗ trợ tư vấn.

Nội dung bài viết:

    Hãy để lại thông tin để được tư vấn

    comment-blank-solid Bình luận

    084.696.7979 19003330 Báo giá Chat Zalo