Thủ tục đăng ký người bào chữa

1. Thủ tục đăng ký người bào chữa thực hiện như thế nào 

 Trong mọi trường hợp tham gia tố tụng, người bào chữa phải đăng kí bào chữa. Khi đăng ký bào chữa, người bào chữa phải xuất trình các giấy tờ sau: 

 

 - Luật sư xuất trình thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực và giấy yêu cầu luật sự của người bị buộc tội hoặc của người đại diện, người thân thích của người bị buộc tội; 

 

 - Người đại diện của người bị buộc tội xuất trình chứng minh nhân dân hoặc thẻ căn cước công dân kèm theo bản sao có chứng thực và giấy tờ có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về mối quan hệ của họ với người bị buộc tội; 

 

 - Bào chữa viên nhân dân xuất trình chứng minh nhân dân hoặc thẻ căn cước công dân kèm theo bản sao có chứng thực và văn bản cử bào chữa viên nhân dân của ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận; 

 

 - Trợ giúp viên pháp lí, luật sư thực hiện trợ giúp pháp lí xuất trình văn bản cử người thực hiện trợ giúp pháp lí của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lí và thẻ trợ giúp viên pháp lí hoặc thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực. 

  Trường hợp chỉ định người bào chữa thì người bào chữa xuất trình các giấy tờ: 

 

 - Luật sư xuất trình thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực và văn bản cử luật sư của tổ chức hành nghề luật sư nơi luật sư đó hành nghề hoặc văn bản phân công của đoàn luật sư đối với luật sư hành nghề là cá nhân; 

 

 

 - Bào chữa viên nhân dân xuất trình chứng minh nhân dân hoặc thẻ căn cước công dân kèm theo bản sao có chứng thực và văn bản cử bào chữa viên nhân dân của ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận; 

 

 - Trợ giúp viên pháp lí, luật sư thực hiện trợ giúp pháp lí xuất trình thẻ trợ giúp viên pháp lí hoặc thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực và văn bản cử người thực hiện trợ giúp pháp lí của trung tâm trợ giúp pháp lí nhà nước. 

  Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận đủ giấy tờ quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 78 bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kiểm ữa giấy tờ và thấy không thuộc trường hợp từ chối việc đãng kí bào chữa quy định tại khoản 5 Điều 78 bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì vào sổ đăng kí bào chữa, gửi ngay văn bản thông báo người bào chữa cho người đăng kí bào chữa, cơ sở giam giữ và lưu giấy tờ liên quan đến việc đăng kí bào chữa vào hồ sơ vụ án; nếu xét thấy không đủ điều kiện thì từ chối việc đăng kí bào chữa và phải nêu rõ lí do bằng văn bản. 

  Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng từ chối việc đăng kí bào chữa khi thuộc một trong các trường hợp: 

 

 - Trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 72 của bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; 

 

 - Người bị buộc tội thuộc trường hợp chỉ định người bào chữa từ chối người bào chữa.  

 

 - Văn bản thông báo người bào chữa có giá trị sử dụng trong suốt quá trình tham gia tố tụng, trừ các trường hợp: 

 

 - Người bị buộc tội từ chối hoặc đề nghị thay đổi người bào chữa; 

 

 - Người đại diện hoặc người thân thích của người bị buộc tội quy định tại điểm b khoản 1 Điều 76 của bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 từ chối hoặc đề nghị thay đổi người bào chữa. 

  Người bào chữa có thể bị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hủy bỏ việc đăng kí bào chữa khi thuộc một trong các trường hợp: 

 

 - Khi phát hiện người bào chữa thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 72 của bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; 

 

 - Vi phạm pháp luật khi tiến hành bào chữa. 

  Khi huỷ bỏ việc đăng kí bào chữa, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thông báo cho người bào chữa, cơ sở giam giữ.  

2. Quy định của pháp luật về quyền bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam 

 Điều 16 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về quyền bào chữa trong tố tụng hình sự: 

 

 ‘‘Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa.Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của Bộ luật này".  Người bị buộc tội có thể sử dụng hai hình thức thực hiện quyền bào chữa: Tự mình bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa. Người bào chữa có thể là luật sư, bào chữa viên nhân dân hoặc người đại diện hợp pháp của  bị can. 

th?id=OIP

3. Luật tố tụng hình sự có quy định phải có luật sư bào chữa và tại sao luật sư bào chữa không được làm nhân chứng? 

Điều 72 Bộ luật tố tụng hình sự quy định  luật sư bào chữa 

 

  1. Người bào chữa là người được người bị buộc tội  hoặc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định bào chữa và được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng  nhận bản đăng ký bào chữa. 
  2. Luật sư có thể là: 

 

  1. a) Luật sư; 

 

  1. b) Người đại diện của người bị tố cáo; 

 

  1. c) Bảo vệ nhân dân; 

 

  1. d) Trợ giúp  pháp lý trong trường hợp  bị can là đối tượng được trợ giúp pháp lý.  
  2. Bào chữa viên nhân dân là công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên trung thành với Tổ quốc, có phẩm chất đạo đức tốt, hiểu biết pháp luật và có  đủ sức khỏe để thực hiện nhiệm vụ được giao. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc tổ chức thành viên của Mặt trận cử tham gia bào chữa cho người bị buộc tội thuộc tổ chức mình.  

4. Những người sau đây không có tư cách bào chữa: 

 

  1. a) Người  tiến hành tố tụng vụ án này; người thân thích của người đã tiến hành hoặc đang tiến hành tố tụng trong vụ án này; 

 

  1. b) Những người tham gia vào việc này với tư cách là người làm chứng, người giám định, chuyên gia bất động sản, người phiên dịch, biên dịch; 

 

  1. c) Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, người chưa được xóa án tích, người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc.  
  2. Người bào chữa có thể bào chữa cho nhiều  bị cáo trong cùng một vụ án nếu quyền và lợi ích của họ không xung đột với nhau. 

  Nhiều luật sư có thể bào chữa cho một  bị cáo. 

 Bị cáo không thể là người làm chứng vì chứng tỏ họ không đủ khách quan, không trung thực và bị ràng buộc bởi nhiều vấn đề, chẳng hạn nếu người làm chứng là cha mẹ, người thân  thì không thể đứng ra bào chữa cho mình được, vì họ không thể đứng ra bào chữa cho mình. có thể  nói tốt cho  nhau và tự bảo vệ mình. 

 

 4 Người làm chứng có thể là người thân thích của bị can, bị cáo không? 

 Người làm chứng có thể là họ hàng theo quy định của luật tố tụng hình sự. 

  Điều 66 Bộ luật tố tụng hình sự 2015  quy định: 

 

 "Quy tắc 66. Nhân chứng 

 

  1. Người làm chứng là người biết  những tình tiết liên quan đến nguồn gốc tội phạm,  vụ án và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập để cung cấp chứng cứ. 
  2. Những người sau đây không được làm chứng: 

 

  1. a) Người bào chữa cho bị cáo; 

 

  1. b) Người do nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không thể nhận thức được những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án hoặc không thể nhận định đúng. 

 Như vậy, theo quy định trên thì những người không thể làm chứng không liệt kê những người thân thích của bị can. Do đó, nếu người thân thích của bị can  biết những tình tiết liên quan đến vụ án thì họ có thể được triệu tập để làm chứng.  

 

5. Người tham gia tố tụng có quyền và lợi ích hợp pháp  liên quan có được mời luật sư bào chữa không?

 Nhóm người có quyền thuê luật sư bào chữa 

 

 - Bị cáo 

 

 -Đại diện  thân nhân của  bị cáo 

 

  Nguyên tắc bảo đảm  quyền của luật sư bào chữa trong cơ quan công an tạm giữ, tạm giam có ý nghĩa như thế nào? Căn cứ quy định tại Khoản 4 Điều 131 Hiến pháp năm 2013, Điều 16 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định nguyên tắc này như sau: 

 “Điều 16. Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại và đương sự 

 Bị cáo có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa.  Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thông báo, giải thích và bảo đảm cho  bị can, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của Bộ luật này. 

 Bị cáo có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa. Trái với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định đối tượng của quyền bào chữa chỉ thuộc về người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thì Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã mở rộng đối tượng của quyền bào chữa không chỉ là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà còn cả người bị bắt. 

 Khi tự bào chữa, bị cáo sử dụng các quyền mà pháp luật cho phép để chứng minh mình vô tội, sự thật không  như hồ sơ  hay để chứng minh mình có tội... 

 Nếu  bị can không tự bào chữa thì có thể nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa.  Người khác có thể là bào chữa viên nhân dân, người đại diện hợp pháp của  bị can, trợ giúp viên pháp lý. Luật sư là những người bào chữa chuyên nghiệp, hoạt động trong phạm vi quán bar. Luật sư  tham gia tố tụng với tư cách là luật sư bào chữa chỉ khi bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo. Bào chữa viên nhân dân là người do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử ra để bào chữa cho thành viên của Mặt trận trong những trường hợp do pháp luật quy định. Trợ lý pháp luật là cán bộ nhà nước làm việc tại các trung tâm trợ giúp pháp lý của nhà nước.  Được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cấp thẻ Trợ giúp viên pháp lý theo đề nghị của Cục trưởng Bộ Tư pháp.  Tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo để bảo đảm quyền bào chữa của họ

 

Nội dung bài viết:

    Đánh giá bài viết: (543 lượt)

    Để lại thông tin để được tư vấn

    Họ và tên không được để trống

    Số điện thoại không được để trống

    Số điện thoại không đúng định dạng

    Email không được để trống

    Vấn đề cần tư vấn không được để trống

    Bài viết liên quan

    Phản hồi (0)

    Hãy để lại bình luận của bạn tại đây!

    084.696.7979 19003330 Báo giá Chat Zalo