Thời hạn tạm giữ khi bắt quả tang theo quy định

thời hạn tạm giữ khi bắt quả tang

thời hạn tạm giữ khi bắt quả tang

 

1. Tạm giam trước khi xét xử là gì?

 Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn trong khuôn khổ tố tụng hình sự do cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng đối với người bị giữ khẩn cấp, người bị bắt quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo thủ tục tố tụng hình sự. căn cứ ra quyết định khám xét (điều 117 Bộ luật tố tụng hình sự 2015). 

 

 

 1.1 Mục đích tạm giam trước khi xét xử 

 Mục đích của việc giữ người trước khi xét xử đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người phạm tội tự  thú hoặc  đầu thú là nhằm ngăn chặn hành vi phạm tội, tránh hành vi lách luật, cản trở hoạt động điều tra của cơ quan điều tra. người phạm tội, tạo điều kiện thuận lợi. điều kiện để cơ quan pháp luật thu thập chứng cứ, tài liệu và bước đầu xác định tính chất hành vi của người bị tạm giữ. Tạm giữ  người bị bắt theo lệnh  để có thời gian cho cơ quan bắt hoặc  thông báo cho cơ quan  truy nã  về việc  bắt  đối tượng bị truy nã và để cơ quan bắt có thời gian. Cơ quan  ra lệnh bắt tiếp nhận người bị bắt.  

1.2 Đối tượng yêu cầu giám hộ 

 Đối tượng bị áp dụng biện pháp công an tạm giữ có thể là người bị công an giữ trong trường hợp khẩn cấp, người đang thực hiện hành vi phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc  bị bắt theo lệnh truy nã. Trong trường hợp người bị bắt thực hiện hành vi phạm tội nhưng tội phạm nhẹ, tính chất ít nghiêm trọng, người bị bắt có nơi cư trú rõ ràng và không có hành vi hoặc có dấu hiệu có thể cản trở việc điều tra thì có không cần phải giam giữ. Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thường bị tạm giữ vì trong hầu hết các trường hợp, khi quyết định giữ người trong trường hợp khẩn cấp, Cơ quan điều tra đã xác định cần  ngăn chặn việc người đó che giấu hoặc tiêu hủy chứng cứ gây khó khăn cho việc điều tra, khám phá tội phạm. . Đối với người bị bắt theo lệnh truy nã thì ngay sau khi lấy lời khai, Cơ quan điều tra tiếp nhận người bị bắt phải thông báo cho cơ quan đã ra lệnh truy nã để cơ quan này đến nhận người bị bắt. Việc tạm giữ  người này chỉ được tuyên khi xét thấy cơ quan  ra lệnh bắt không thể đến ngay để nhận người bị bắt. 

 - Thẩm quyền ra quyết định tạm giữ, tiến hành tạm giữ (khoản 2, 3, 4 Điều 117 Bộ luật tố tụng hình sự 2015). 

 

 

 2. Thẩm quyền ra lệnh tạm giữ 

 Người có quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp quy định tại khoản 2 mục 110 Bộ luật tố tụng hình sự  2015 có quyền ra lệnh tạm giữ.  

 Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015, cơ quan điều tra từ cấp huyện trở lên  có quyền ra lệnh tạm giữ. Chính quyền và công an cấp xã, huyện và huyện không có quyền tạm giữ trong bối cảnh tố tụng hình sự. Như vậy, khi tiếp nhận người bị bắt  quả tang hoặc  bị truy nã, Uỷ ban nhân dân cấp xã, huyện, xã phải  lập biên bản  quả tang, biên bản bắt người  bị truy nã. và giải ngay người bị bắt đến cơ quan điều tra có thẩm quyền. 

 

 

 3. Thủ tục tạm giam trước khi xét xử 

 Việc tạm giữ phải được người có thẩm quyền quyết định bằng văn bản. Quyết định tạm giữ phải ghi rõ lý do tạm giữ, thời hạn tạm giam trước khi xét xử; ngày giờ bắt đầu thu giữ, ngày giờ hết thời hạn tạm giữ và giao cho người bị tạm giữ một bản. Trường hợp việc tạm giữ không được người có thẩm quyền quyết định thì người bị tạm giữ có quyền yêu cầu trả tự do. 

 Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi ra quyết định tạm giữ, quyết định tạm giữ phải được gửi cho viện kiểm sát cùng cấp để kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn. Khi kiểm sát việc tạm giữ, nếu thấy việc tạm giữ không đúng pháp luật hoặc không cần thiết, viện kiểm sát ra quyết định huỷ bỏ quyết định tạm giữ và yêu cầu người ra quyết định tạm giữ trả tự do ngay cho người bị tạm giữ.  

 Viện kiểm sát ra quyết định huỷ bỏ quyết định tạm giữ trong những trường hợp sau đây: 

 

 Người bị tạm giữ không phải là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã và không phải là người phạm tội tự thú, đầu thú; 

 

 

 Người bị tạm giữ chỉ có những vi phạm nhỏ, tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự; 

 

 

 Người bị tạm giữ trong trường hợp phạm tội quả tang nhưng sự việc phạm tội nhỏ, tính chất ít nghiêm ưọng, người bị tạm giữ có nơi cư trú rõ ràng và không có biểu hiện sẽ trốn hoặc cản trở việc điều tra. 

 

 

 4. Thời hạn tạm giữ người 

 Điều 118 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định: 

 

 Thời hạn tạm giữ không quá 03 ngày kể từ khi cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhận người bị giữ, người bị bắt hoặc áp giải người bị giữ, người bị bắt về trụ sở của mình hoặc kể từ khi cơ quan điều tra ra quyết định tạm giữ người phạm tội tự thú, đầu thú. Những quy định này nhằm đạt được mục đích giam giữ cũng như  hạn chế việc giam giữ người trái pháp luật.  

 Trường hợp cần thiết, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ, nhưng không quá 03 ngày. Trường hợp cần thiết là khi vụ việc  có nhiều tình tiết phức tạp, việc xác minh phải tiến hành ở nhiều địa phương khác nhau hoặc cần nhiều thời gian hơn để làm rõ  hành vi, làm rõ nhân thân, lai lịch của người bị tạm giữ. 

 Trong trường hợp đặc biệt, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ lần thứ hai, nhưng không quá 03 ngày. Đây thường  là trường hợp xảy ra đối với các vụ án liên quan đến an ninh quốc gia và một số vụ án hình sự khác có nhiều đối tượng tham gia, nghi vấn cần kiểm sát rất phức tạp, mặc dù đã gia hạn tạm giữ lần đầu nhưng nghi vấn vẫn chưa được làm rõ. Mọi trường hợp gia hạn tạm giam trước khi xét xử đều phải được sự phê chuẩn của Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận được đơn đề nghị gia hạn tạm giam trước khi xét xử, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc phê chuẩn. Nếu Kiểm sát viên không phê chuẩn thì cơ quan đã ra lệnh tạm giam phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ sau khi hết thời hạn tạm giam trước đó. 

 

  Trong thời gian tạm giữ, nếu không đủ căn cứ để khởi tố bị can thì Cơ quan điều tra hoặc cơ quan có trách nhiệm  tiến hành một số hoạt động điều tra  trả tự do ngay cho người bị tạm giữ; trường hợp đã gia hạn tạm giam trước khi xét xử thì Kiểm sát viên phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ. 

 

  Thời gian nắm giữ được trừ vào thời gian nắm giữ. Thời gian tạm giữ hạn chế quyền của công dân  được  trừ vào thời gian tạm giam theo nguyên tắc một ngày tạm giữ bằng một ngày tạm giam. Trường hợp sau đó người bị tạm giữ  không bị tạm giam thì khi Tòa án quyết định mức án phạt tù của bị cáo thì thời gian tạm giam trước khi xét xử được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù theo nguyên tắc một ngày. tạm giam trước khi xét xử tương đương với một ngày bị công an tạm giữ, một ngày ở tù. 

 Hết thời hạn tạm giữ, nếu không đủ căn cứ để khởi tố bị can thì phải trả tự do ngay cho người  bị tạm giữ. Đây là trường hợp không phải gia hạn tạm giữ hoặc đã hết thời hạn  lần thứ nhất, lần thứ hai mà chưa đủ căn cứ  xác định người bị tạm giữ đã phạm tội  thì phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ. .

 

Nội dung bài viết:

    Hãy để lại thông tin để được tư vấn

    comment-blank-solid Bình luận

    084.696.7979 19003330 Báo giá Chat Zalo