1. Thời gian chuẩn bị xét xử
Giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là khoảng thời gian do Bộ luật tố tụng hình sự quy định để Tòa án tiến hành các hoạt động tố tụng và các công việc cần thiết khác nhằm chuẩn bị cho việc xét xử vụ án ở cấp sơ thẩm. .ví dụ. phiên tòa sơ thẩm chất lượng cao và hiệu quả. Thời gian chuẩn bị xét xử vụ án được tính kể từ ngày Tòa án thụ lý vụ án. Trong thời hạn này, Thẩm phán chủ trì phiên tòa có trách nhiệm nghiên cứu hồ sơ, giải quyết các khiếu nại, yêu cầu của những người tham gia tố tụng và thực hiện các công việc khác cần thiết cho việc khai mạc phiên tòa. Theo Điều 277 BLTTDS, thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự bao gồm: Thời gian để chủ tọa phiên tòa nghiên cứu hồ sơ và đưa ra một trong các quyết định cần thiết[1]; Thời gian cho phép Thẩm phán tiến hành các công việc chuẩn bị cho việc khai mạc phiên tòa theo quyết định đưa vụ án ra xét xử. Thời gian để thẩm phán đưa ra một trong các quyết định cần thiết khác nhau tùy thuộc vào tội phạm mà cơ quan công tố truy tố đối với bị cáo là tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng. Vì vậy, khi nhận vụ án do Chánh án phân công, Thẩm phán phải thận trọng xác định bị cáo bị Viện kiểm sát truy tố về tội gì, thuộc loại tội nào theo quy định về phân loại tội phạm tại Điều 9 BLHS. Mã số. Trong trường hợp có nhiều bị cáo bị truy tố về nhiều tội thuộc các loại tội khác nhau thì thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án được xác định theo tội nặng nhất. Ví dụ: Vụ án có hai bị cáo, trong đó Nguyễn Văn A bị khởi tố về tội “cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 BLHS (là tội phạm ít nghiêm trọng), Nguyễn Văn B bị khởi tố về tội của tội “trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 BLHS (là tội phạm rất nghiêm trọng) thì thời gian chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án được xác định căn cứ vào tội danh mà Nguyễn Văn B đang bị khởi tố.
Theo khoản 1 Điều 277 BLTTDS thì thời hạn để ra một trong các quyết định cần thiết đối với từng loại tội phạm như sau: 30 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, 45 ngày đối với tội phạm nghiêm trọng và 45 ngày đối với tội phạm nghiêm trọng. tội phạm rất nghiêm trọng là 2 tháng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là 3 tháng. Khi thời hạn nêu trên gần hết (còn lại không quá năm ngày) mà Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà thấy vụ án phức tạp nên chưa ra được một trong những quyết định cần thiết thì phải báo cáo ngay với Chánh án Tòa án để ra quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử. Vụ án phức tạp có thể là: Vụ án có nhiều bị can, phạm tội có tổ chức hoặc phạm nhiều tội; Vụ án liên quan đến nhiều lĩnh vực hoặc nhiều địa phương; Vụ án có nhiều tài liệu, có các chứng cứ mâu thuẫn với nhau cần có thêm thời gian để nghiên cứu, tổng hợp các tài liệu có trong hồ sơ vụ án hoặc để tham khảo ý kiến của cơ quan chuyên môn…
Đối với những vụ án phức tạp, Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 15 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, không quá 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Hết thời hạn được gia hạn, Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà phải ra một trong những quyết định quy định tại khoản 1 Điều 277 BLTTHS.
Nếu Thẩm phán chủ toạ phiên toà ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung, quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử kết thúc vào ngày ra quyết định. Thời hạn chuẩn bị xét xử khi Tòa án nhận lại hồ sơ từ VKS (trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung) hoặc Tòa án ra quyết định phục hồi vụ án được quy định như sau:
Đối với trường hợp vụ án được trả lại để yêu cầu điều tra bổ sung, thì trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận lại hồ sơ, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử;
Đối với trường hợp ra quyết định tạm đình chỉ vụ án hoặc quyết định đình chỉ vụ án nhưng sau đó lại có quyết định phục hồi vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử được bắt đầu tính lại, kể từ ngày Tòa án ra quyết định phục hồi vụ án khi lý do tạm đình, đình chỉ vụ án không còn. Như vậy, thời hạn để Chủ tịch nước nghiên cứu hồ sơ và đưa ra một trong các quyết định cần thiết bao gồm thời hạn quy định tại Điều 1 và thời hạn gia hạn quy định tại Điều 277 BLTTDS. Như vậy, thời gian cho phép Chánh án Toà án nghiên cứu hồ sơ và ra một trong các quyết định cần thiết: Đối với tội phạm ít nghiêm trọng là 45 ngày (= 30 ngày và 15 ngày); đối với tội phạm nghiêm trọng là 60 ngày (= 45 ngày 15 ngày); Đối với tội phạm rất nghiêm trọng là 2 tháng 30 ngày (= 2 tháng 30 ngày) và đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là 3 tháng 30 ngày (= 3 tháng 30 ngày)[2].
Thời hạn tối đa để Thẩm phán tiến hành công việc chuẩn bị cho việc mở phiên tòa là 30 ngày, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử. Bởi vì, theo quy định tại khoản 3 Điều 277 BLTTDS thì: nếu thẩm phán ra quyết định đưa vụ án ra xét xử thì trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, tòa án phải mở phiên tòa xét xử; Trong trường hợp có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, Toà án có thể mở phiên xét xử trong thời hạn 30 ngày.
2. Thời hạn tạm giam trong giai đoạn chuẩn bị xét xử
Theo quy định tại khoản 2 và 3 Điều 278 BLTTHS, thì: Thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản 1 Điều 277 của Bộ luật này; Đối với bị cáo đang bị tạm giam mà đến ngày mở phiên tòa thời hạn tạm giam đã hết, nếu xét thấy cần tiếp tục tạm giam để hoàn thành việc xét xử thì Hội đồng xét xử ra lệnh tạm giam cho đến khi kết thúc phiên tòa.
Điểm khác nhau căn bản giữa thời hạn chuẩn bị xét xử và thời hạn tạm giam trong giai đoạn chuẩn bị xét xử là: Thời hạn chuẩn bị xét xử một vụ án hình sự cụ thể (trong trường hợp vụ án có nhiều bị can bị truy tố về các tội phạm nặng, nhẹ khác nhau) được quyết định chung theo tội phạm nặng nhất mà VKS truy tố; Thời hạn tạm giam được quyết định đối với từng bị can theo tội phạm mà VKS truy tố. Do vậy, thời hạn tạm giam đối với từng bị can trong một vụ án không đồng nhất với thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án. Cho nên, thời hạn tạm giam và thẩm quyền ra lệnh tạm giam quy định tại Điều 278 BLTTHS có một số hạn chế, bất cập:
- Thứ nhất, mặc dù khoản 2 Điều 278 BLTTHS quy định thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản 1 Điều 277 của BLTTHS, tuy nhiên, sau khi thụ lý hồ sơ Chánh án hoặc Phó Chánh án nếu ra quyết định tạm giam bị can, thì thời hạn tạm giam: Đối với bị can bị truy tố về tội phạm ít nghiêm trọng chỉ là là 30 ngày; Đối với bị can bị truy tố về tội phạm nghiêm trọng chỉ là 45 ngày; Đối với bị can bị truy tố về tội phạm rất nghiêm trọng chỉ là 2 tháng và đối với bị can bị truy tố về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng chỉ là 3 tháng. Vậy, trong trường hợp vụ án phức tạp, đến hết thời hạn nêu trên, Chánh án quyết định gia hạn chuẩn bị xét xử và lệnh tạm gian đã hết hoặc gần hết, thì có gia hạn thời hạn tạm giam không quá 15 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, không quá 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng hay không. Nếu gia hạn thì theo điều luật nào của Bộ luật tố tụng hình sự.
Bởi vì, quyết định của Thẩm phán trong quá trình gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử không chỉ là quyết định đưa vụ án ra xét xử mà còn là quyết định chuyển vụ án để điều tra bổ sung, quyết định tạm đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án. sự thử nghiệm. trường hợp. Khi chưa có quyết định khởi tố vụ án thì người bị khởi tố chưa phải là bị can. Vì vậy, không thể căn cứ vào quy định tại khoản 3 Điều 278 Bộ luật tố tụng hình sự để tiếp tục tạm giam bị can trong trường hợp này.
- Thứ hai, quy định tại khoản 3 Điều 278 Bộ luật tố tụng hình sự “Đối với bị cáo bị tạm giam trước khi xét xử mà đến ngày mở phiên tòa đã hết thời hạn tạm giam trước khi xét xử, nếu xét thấy cần tiếp tục tạm giam để xét xử xong thì Tòa án phải ra lệnh tạm giam cho đến khi kết thúc xét xử” chỉ bảo đảm tính liên tục của thời hạn tạm giam chứ không bảo đảm tính liên tục của thời hạn tạm giam. tính khả thi. Bởi vì, cơ quan có thẩm quyền ra lệnh tạm giữ trong trường hợp này là cấp sơ thẩm. Trong khi hội đồng xét xử chỉ bắt đầu làm việc khi chủ tọa phiên tòa khai mạc phiên tòa và đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử.
- Thứ ba, quy định tại Điều 278 Bộ luật tố tụng hình sự không đề cập đến việc áp dụng, sửa đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giam trong trường hợp Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc tạm giam.. đình chỉ vụ án. Vì vậy, khi hết thời hạn chuẩn bị xét xử (tức là thời hạn tạm giam trước khi xét xử quy định tại khoản 2 Điều 278 không vượt quá thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản 1 Điều 277 BLTTDS) thì chủ tọa phiên tòa phải không quá thời hạn chuẩn bị xét xử. Chủ toạ phiên toà ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung, đình chỉ điều tra và xét thấy cần thiết phải tạm giam bị can để trả hồ sơ cho Viện kiểm sát. để điều tra bổ sung hoặc chờ kết luận giám định tư pháp và kết luận giám định giá trị tài sản, kết quả tương trợ tư pháp hoặc kết quả xử lý văn bản quy phạm pháp luật mà Tòa án đề nghị không tạm giam bị can. Trong trường hợp không có các quy định này, thẩm phán đã bị áp lực phải trả hồ sơ trước khi kết thúc giai đoạn chuẩn bị xét xử một thời hạn nhất định để cơ quan công tố tiếp nhận vụ án và ra lệnh tạm giam để điều tra thêm. 4]. Đồng thời, Tòa án không thể áp dụng biện pháp tạm giam khi đã ra quyết định tạm đình chỉ vụ án.
Để khắc phục những bất cập trên, đề nghị sửa đổi Điều 278 Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
“Điều 278. Áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, cưỡng chế
- Sau khi thụ lý vụ án hoặc ra quyết định phục hồi vụ án, chủ tọa phiên tòa quyết định việc áp dụng, sửa đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, trừ áp dụng hoặc thay thế. Việc thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp tạm giam do Chánh án hoặc Phó Chánh án Toà án quyết định.
- Thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử không quá thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản 1 Điều 277 của bộ luật này. Thời hạn tạm giam tại trường học mở rộng để chuẩn bị xét xử không quá thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 277 của bộ luật này.
Thời hạn tạm giữ đối với việc gửi cho Viện kiểm sát quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung kèm theo hồ sơ là 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
Thời hạn tạm giam trong trường hợp tạm đình chỉ vụ án kết thúc khi Tòa án[5] ra quyết định phục hồi vụ án và áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn quy định tại khoản 1 Điều này.
- Đối với bị cáo bị tạm giam trước khi xét xử mà đến ngày mở phiên tòa đã hết thời hạn tạm giam trước khi xét xử.
Dẫn giải các bị cáo đến phiên tòa - Ảnh: Thanh Phương/VNN
[1] Theo quy định tại khoản 1 Điều 277 BLTTDS thì Thẩm phán phải ra một trong các quyết định sau đây: Đưa vụ án ra xét xử; Trả hồ sơ để điều tra thêm; Chỉ tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án.
[2] Theo quy định tại Điều 134 BLTTDS thì kỳ hạn ngày và kỳ hạn tháng sẽ kết thúc vào các thời điểm khác nhau nên chúng tôi không cho rằng trong các trường hợp trên: 2 tháng 30 ngày là 3 tháng; 3 tháng 30 ngày là 4 tháng.
[3] Đây là những lý do mà chủ tọa phiên tòa ra quyết định tạm đình chỉ vụ án quy định tại điều 281 BLTTDS.
[4] Do đó, CPP phải dành đủ thời gian để Tòa án chuyển giao và Văn phòng Công tố nhận hồ sơ và áp dụng biện pháp tạm giam. Chúng tôi cho rằng 10 ngày là đủ để nộp hồ sơ và Viện kiểm sát ra quyết định tạm giữ để điều tra thêm.
[5] Sở dĩ quy định chủ thể của lệnh tạm giam trong trường hợp này là Hội đồng xét xử chứ không phải chủ toạ phiên toà vì khi phục hồi vụ án, thẩm phán được chỉ định làm chủ toạ phiên toà. phiên tòa. trước đây) đã nghỉ hưu hoặc chuyển công tác.
BÌNH LUẬN (0)
Nhập nội dung bình luận. BÀI VIẾT CÙNG CHUYÊN MỤC
Tội loạn luân trong luật hình sự nước ta từ xưa đến nay
NGÔ CÔNG Bài viết tìm hiểu các quy định về tội loạn luân trong luật hình sự nước ta, từ Quốc triều hình luật (Luật Hồng Đức) đến Bộ luật xử.
CHI TIẾT →
Nội dung bài viết:
Bình luận