Khái quát chung về thiết chế thương mại quốc tế

thiết chế thương mại quốc tế là gì
thiết chế thương mại quốc tế là gì

1. Cơ sở hình thành và phát triển của các thể chế thương mại quốc tế 

1.1. Trên cơ sở thực tế. 

Các quốc gia trên thế giới ở các mức độ khác nhau có trình độ phát triển kinh tế, điều kiện tự nhiên, thể chế chính trị... khác nhau trong các thời kỳ khác nhau cho thấy, hợp tác phát triển là một thực tế mà không quốc gia nào có thể bỏ qua. Vì vậy, sự ra đời, tồn tại và phát triển của các thể chế thương mại quốc tế là một trong những hình thức hợp tác hiệu quả thông qua việc điều hòa và phối hợp lợi ích giữa các thành viên. Mặt khác, trong những thập kỷ gần đây, nhất là sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, quá trình quốc tế hóa đời sống kinh tế diễn ra ngày càng đa dạng. Các vấn đề toàn cầu tác động đến lợi ích kinh tế của các quốc gia ngày càng nổi lên, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ hơn nữa của các quốc gia trong khuôn khổ các tổ chức hoặc diễn đàn phù hợp nhằm duy trì ổn định, ổn định và phát triển có trật tự các quan hệ quốc tế nói chung và quan hệ kinh tế quốc tế nói riêng. Tổ chức Thương mại Quốc tế là một trong những hình thức như vậy. Như vậy, sự ra đời và phát triển của các thể chế thương mại quốc tế là tất yếu và khách quan.

 1.2. Về cơ sở pháp lý 

Thể chế thương mại quốc tế ra đời trên cơ sở các văn bản pháp lý quốc tế do các quốc gia ký kết hoặc ban hành bởi cơ quan có thẩm quyền của một số tổ chức quốc tế liên chính phủ như: hiệp định thương mại quốc tế, công ước quốc tế, nghị quyết, thỏa thuận quốc tế,... Các văn bản này không chỉ tiền đề cho việc thành lập các tổ chức, cơ quan nhưng thường bao gồm các quy định về cơ cấu tổ chức, chức năng, quyền hạn của chính các cơ quan này. Chẳng hạn, Liên hợp quốc ra đời trên cơ sở Hiến chương, ASEAN ra đời trên cơ sở Tuyên bố Bangkok, Ủy ban Liên hợp quốc về luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) ra đời từ nghị quyết của Đại hội đồng. .. Cùng với các tổ chức quốc tế liên chính phủ, các văn bản pháp luật quốc tế này cũng là một trong những căn cứ để xác định quyền năng chủ thể của luật quốc tế chính của tổ chức đó. 

2. Đặc điểm của thể chế thương mại quốc tế 

Hiện nay, xuất phát từ những lý do như mục đích thành lập và hoạt động, tác động của xu thế khu vực hóa và toàn cầu hóa…, so với các tổ chức quốc tế khác, các thiết chế thương mại quốc tế hiện nay có một số đặc điểm sau: 

Thứ nhất, sự đa dạng về hình thức tổ chức Để đáp ứng nhu cầu và lợi ích kinh tế quốc tế của mình, các chủ thể tham gia vào quá trình hợp tác quốc tế có xu hướng sáng tạo ra nhiều mô hình tổ chức hết sức phong phú. Bên cạnh các tổ chức kinh tế quốc tế liên chính phủ, tổ chức phi chính phủ, tổ chức toàn cầu (Liên hợp quốc, Tổ chức thương mại thế giới, WTO), tổ chức khu vực (Liên minh châu Âu (EU), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á...), còn có các hình thức mới như Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC). Ngoài ra, trong khuôn khổ các tổ chức quốc tế liên chính phủ có hoạt động bao trùm nhiều lĩnh vực khác nhau (các tổ chức quốc tế có tính chất chung) nhằm thực hiện mục tiêu hợp tác trong lĩnh vực kinh tế - thương mại, trong cơ cấu của các tổ chức này còn bao gồm các cơ quan chuyên trách thực hiện các có chức năng điều phối hoạt động giữa các thành viên trong lĩnh vực kinh tế như Hội đồng Kinh tế - Xã hội, Ủy ban Luật Thương mại Quốc tế, Hội nghị Luật Thương mại Quốc tế, Hội nghị Hợp tác và Phát triển Luật Thương mại Quốc tế... Liên hợp quốc, Hội đồng AFTA, Hội đồng AIA, Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN... 

Thứ hai, sự đa dạng về thành viên Sự gia tăng số lượng các định chế thương mại quốc tế và số lượng thành viên của mỗi định chế cho thấy sự khác biệt về trình độ phát triển kinh tế, khu vực địa lý và quan điểm chính trị giữa các quốc gia. đã không còn được coi là rào cản không thể vượt qua. Hiện tượng này không chỉ có thể gặp ở các tổ chức toàn cầu mà còn gặp ở một số tổ chức quốc tế khu vực. Điển hình, đối với ASEAN, thành viên của tổ chức này bao gồm các nước phát triển cao như Singapore và các nước đang phát triển như Việt Nam, Lào, Campuchia… các nước có nền kinh tế chuyển đổi (Việt Nam) và các nước có nền kinh tế thị trường truyền thống (Thái Lan, Singapore). Ngoài ra, quy định của một số định chế thương mại quốc tế còn cho phép các chủ thể khi đáp ứng các yêu cầu về tiêu chuẩn thành viên thì có thể trở thành thành viên chính thức của các định chế này (ví dụ: Hồng Kông và Ma Cao là thành viên của WTO). Điều này khó có thể chấp nhận được ở các tổ chức quốc tế liên chính phủ khác, nơi hợp tác kinh tế và thương mại không phải là mục tiêu duy nhất. 

- Thứ ba, mối quan hệ đoàn kết giữa các thể chế thương mại quốc tế. Các thể chế thương mại quốc tế có mối quan hệ ngày càng chặt chẽ không chỉ ở cấp độ các tổ chức thành viên mà còn trong lĩnh vực hoạt động. Mối quan hệ này đặc biệt thể hiện rõ trong mối quan hệ giữa LHQ với các tổ chức chuyên môn của hệ thống LHQ, giữa LHQ với một số tổ chức khu vực. Trước xu thế khu vực hóa và toàn cầu hóa đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ, có thể nói, ngày nay không một quốc gia nào trên thế giới không phải là thành viên của một tổ chức quốc tế. Xuất phát từ mục đích nâng cao hiệu quả hoạt động của từng tổ chức quốc tế, mặt khác, việc là thành viên của các tổ chức quốc tế khác nhau cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự đan xen các cam kết liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các quốc gia thành viên và có liên quan. các tổ chức quốc tế.

 3. Vai trò của các thể chế thương mại quốc tế. 

Cùng với sự phát triển của quan hệ quốc tế, các thể chế thương mại quốc tế ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế của các quốc gia nói riêng. Vai trò của các thể chế này thể hiện trong các lĩnh vực cơ bản như:

 - Hoạt động của các định chế thương mại góp phần hài hòa lợi ích kinh tế giữa các thành viên thông qua phối hợp, hành động, bổ sung và hoàn thiện các kế hoạch hợp tác kinh tế, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các quốc gia, giải quyết hiệu quả hơn các vấn đề toàn cầu hiện nay như vấn đề môi trường, an ninh lương thực, năng lượng,. .. 

- Các thể chế thương mại có vai trò đặc biệt quan trọng trong đàm phán, ký kết các điều ước quốc tế ở cấp độ khu vực và toàn cầu nhằm xây dựng và hoàn thiện khuôn khổ pháp luật quốc tế nói chung và khuôn khổ pháp lý luật thương mại quốc tế nói riêng, thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa .

 - Đối với các tranh chấp phát sinh trong quá trình hợp tác kinh tế, cơ chế giải quyết tranh chấp của các định chế thương mại quốc tế như WTO, EU, ASEAN... là một trong những bảo đảm pháp lý về quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên. 

4. Các tổ chức kinh doanh toàn cầu 

4.1. Liên Hợp Quốc 

Đến nay, Liên hợp quốc đã tồn tại hơn nửa thế kỷ và ngày càng chứng tỏ vai trò quan trọng của mình trong đời sống quốc tế. Với tư cách là một tổ chức quốc tế liên chính phủ có tính chất tổng hợp, hoạt động của Liên hợp quốc bao trùm tất cả các lĩnh vực quan hệ quốc tế, trong đó có hợp tác kinh tế quốc tế. Một số cơ quan của Liên hợp quốc hoạt động trong lĩnh vực kinh tế như:

 - Hội đồng kinh tế xã hội (ECOSOC) Đây là một trong sáu cơ quan chính của Liên hợp quốc được thành lập để trực tiếp thực hiện các chức năng kinh tế và xã hội của Liên hợp quốc trên toàn thế giới. Phần lớn các nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc về các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa và nhân đạo đều xuất phát từ các khuyến nghị của ECOSOC.

 - Ủy ban Liên hợp quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) Một trong những nhiệm vụ chủ yếu của của ủy ban Liên Hợp Quốc về Luật thương mại quốc tế là đề ra các giải pháp để từng bước phát triển hóa luật thương mại quốc tế. Năm 1996, luật mẫu về thương mại điện tử đã được UNCITRAL soạn thảo, luật này đề ra các nguyên tắc trong việc hình thành, xác nhận, thực hiện các hợp đồng được hình thành thông qua phương thức điện tử, nêu các đặc trưng của một văn bản điện tử có giá trị, bằng chứng điện tử trong các thủ tục tố tụng tại cơ quan tòa án, trọng tài,... 

- Cơ quan về thương mại và phát triển của Liên Hợp Quốc (UNCTAD) Cơ quan này được thành lập với các chức năng cơ bản như nghiên cứu phân tích chính sách và thống kê số liệu nhằm mục đích trao đổi thảo luận với đại diện của các chính phủ và các chuyên gia, hỗ trợ về mặt kỹ thuật phù hợp với các yêu cầu cụ thể của các nước đang phát triển, đặc biệt là nước kém phát triển nhất và các nền kinh tế đang chuyển đổi. Đây là diễn đàn thảo luận trao đổi giữa các thành viên để xây dựng sự đồng thuận.

 - Chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP) Lĩnh vực hoạt động của UNDP rất đa dạng tùy theo sự thỏa thuận giữa chính phủ hữu quan và UNDP, cụ thể: Quản lý kinh tế vĩ mô, cải cách hành chính nghiên cứu tổng quát tất cả các lĩnh vực các ngành kinh tế giúp các công trình kinh tế, khoa học kỹ thuật trong mọi ngành sản xuất 

4.2. Tổ chức thương mại thế giới 

Tiền thân của WTO là hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (GATT năm 1947). Từ 23 thành viên ban đầu, đến năm 1994, số lượng các bên tham gia GATT đã tăng lên 132. Điều này cũng chứng tỏ vị trí và vai trò của GATT trong thương mại quốc tế. Mặc dù luôn mang tính chất “tạm thời” trong suốt quá trình tồn tại nhưng sự hoàn thiện trong khuôn khổ pháp lý của GATT là không thể phủ nhận. Mặc dù còn những hạn chế nhất định, nhưng GATT đã chứng tỏ được vai trò hết sức quan trọng của mình, đặc biệt là trong việc tổ chức và tiến hành đàm phán thương mại đa phương về cắt giảm thuế quan và các biện pháp phi thuế quan. Ngày 15 tháng 4 năm 1994 tại Marrakesh, các quốc gia đã ký thỏa thuận thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), tổ chức quốc tế đầu tiên và lớn nhất thế giới tham gia điều chỉnh hầu hết các lĩnh vực thương mại toàn cầu.

 4.3. Các tổ chức thương mại khu vực

 - Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương Sự ra đời của APEC nhằm đạt được các mục tiêu chính sau đây về tự do hóa hoàn toàn thương mại và đầu tư cho các nước công nghiệp vào năm 2010 và cho các nước đang phát triển vào năm 2020; tạo thuận lợi cho thương mại và đầu tư trong khu vực; phát triển hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế - kỹ thuật để hỗ trợ lẫn nhau, phát triển ổn định, bền vững, phát huy những thành tựu tích cực mà nền kinh tế các nước trong khu vực đã tạo ra, vì lợi ích của khu vực và toàn thế giới

. - Liên minh Châu Âu (EU) Liên minh châu Âu hiện là tổ chức quốc tế toàn diện và hiệu quả nhất về hợp tác kinh tế. Nếu như mức độ hợp tác kinh tế quốc tế của ASEAN ở mức khu vực thương mại tự do thì Liên minh châu Âu đã đạt đến mức cao nhất là liên minh kinh tế và tiền tệ, hướng tới dỡ bỏ các hạn chế thương mại, hạ thấp hàng rào thuế quan để tạo thuận lợi cho quốc tế. buôn bán. Liên quan đến thị trường nội bộ, EU đã thiết lập sự di chuyển tự do của lao động, vốn, hàng hóa và dịch vụ và đã tạo ra một thị trường chứng khoán và thị trường tài chính tích hợp đầy đủ. 

- Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) ASEAN là tổ chức quốc tế liên chính phủ có tính chất khu vực, được thành lập năm 1967 trên cơ sở Tuyên bố ASEAN. Mục đích của ASEAN là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hóa trong khu vực thông qua các nỗ lực chung trên tinh thần bình đẳng và hợp tác nhằm củng cố nền tảng của một cộng đồng các quốc gia hòa bình và thịnh vượng ở Đông Nam Á. 

- Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA) NAFTA không chỉ quy định việc loại bỏ tất cả các loại thuế quan trong khu vực chậm nhất là trong vòng 15 năm mà còn loại bỏ hầu hết các hàng rào phi thuế quan. Hiệp định cũng bao gồm các quy định chung về đối xử với đầu tư nước ngoài, mua sắm chính phủ, thương mại dịch vụ, thủ tục hải quan, tiêu chuẩn kỹ thuật, sở hữu trí tuệ, thương mại hàng hóa và dịch vụ, nông sản, năng lượng và hóa chất cơ bản,...

Nội dung bài viết:

    Hãy để lại thông tin để được tư vấn

    comment-blank-solid Bình luận

    084.696.7979 19003330 Báo giá Chat Zalo