tâm lý phạm tội
1. Nhận thức chung về tâm lý tội phạm:
Mỗi tội phạm đều có trạng thái tâm lý riêng nên trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, cơ quan thực thi pháp luật phải nghiên cứu, phân tích, nắm bắt tâm lý tội phạm; về ý định phạm tội, cách thức, hành vi và phương pháp phạm tội.
Để nắm bắt tâm lý tội phạm cũng như có phương pháp, biện pháp phù hợp, đáp ứng yêu cầu đấu tranh, khai thác cũng như trong quá trình phát hiện, giáo dục đối tượng, các tổ chức bảo vệ pháp luật nói chung và trong đối với lực lượng Công an nói riêng, vấn đề “tâm lý tội phạm” được nâng lên thành một bộ môn tâm lý học (gọi là tâm lý học tội phạm) liên quan đến việc chuẩn bị và thực hiện tội phạm; sự hình thành tâm lý tội phạm, ý định tội phạm và các dạng (mẫu) hành vi tội phạm, nhân cách tội phạm, nhóm tội phạm nhằm góp phần nghiên cứu các biện pháp phòng ngừa xã hội, điều tra khám phá tội phạm cũng như giáo dục, cải tạo người phạm tội
2. Các yếu tố của tội phạm
Tội phạm có thể được nghiên cứu từ các góc độ khác nhau. Đó là việc nghiên cứu cấu trúc của tội phạm và sự phản ánh của tội phạm trong luật hình sự nhằm trả lời các câu hỏi: Cấu thành tội phạm gồm những yếu tố nào? Tội phạm được phản ánh như thế nào trong luật hình sự?
Nghiên cứu xét về mặt cấu trúc, phạm pháp có đặc điểm chung là đều được cấu tạo bởi những yếu tố nhất định, tồn tại không tách rời nhau nhưng có thể cho phép nghiên cứu độc lập. Các yếu tố này theo khoa học của luật hình sự Việt Nam là chủ thể của tội phạm, mặt khách quan của tội phạm, mặt chủ quan của tội phạm và khách thể của tội phạm. Như vậy, tội phạm bao gồm bốn yếu tố. Bất kỳ tội phạm nào, dù là loại tội phạm nào cũng như mức độ nghiêm trọng của nó, đều bao gồm 4 yếu tố này. Trước hết, nếu có tội phạm thì phải có chủ thể thực hiện tội phạm. Đây là khách thể của tội phạm. Hành vi phạm tội do chủ thể thực hiện tội phạm bao giờ cũng là sự thống nhất giữa biểu hiện bên ngoài và diễn biến tâm thần bên trong của chủ thể. Đó là mặt khách quan và mặt chủ quan của tội phạm. Hành vi phạm tội do chủ thể thực hiện bao giờ cũng nhằm mục đích gây hại. Đó là yếu tố khách quan của tội phạm.
3. Chủ thể của tội phạm là gì?
- Chủ thể của tội phạm là người cụ thể có năng lực trách nhiệm hình sự (năng lực nhận thức, khả năng điều khiển hành vi của mình và đủ tuổi theo quy định của pháp luật) đã thực hiện tội phạm. Hơn nữa, trong một số tội phạm chủ thể còn có những đặc điểm khác vì chỉ khi có những đặc điểm khác thì chủ thể mới thực hiện hành vi phạm tội của các tội phạm đó. Ví dụ: chỉ người có chức vụ, quyền hạn mới phạm tội có dấu hiệu “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn”?
Tội phạm cụ thể nào cũng phải có chủ thể. Không có chủ thể của tội phạm thì không có tội phạm. Chủ thể của tội phạm phải là một người sống cụ thể. Khi những kẻ phạm pháp còn sống, nguy hiểm cho xã hội thì phải giáo dục chúng trở thành người có ích cho xã hội. Chỉ có người sống mới cần cải cách và giáo dục. Pháp luật hình sự Việt Nam quy định chủ thể là người cụ thể thực hiện tội phạm nên pháp luật hình sự không cho phép người khác chịu trách nhiệm hình sự thay cho người phạm tội, kể cả đó là người thân thích. Đây là nguyên tắc cá thể hóa, cụ thể hóa trách nhiệm hình sự. Pháp luật hình sự không cho phép truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đã chết. Sau khi phạm tội, trước khi bị khởi tố, nếu người phạm tội đã chết thì không thể khởi tố vụ án hình sự. Trong quá trình điều tra, nếu người phạm tội đã chết, vụ án phải được khép lại với anh ta. - Chủ thể của tội phạm phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Chỉ những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự mới có thể nhận thức rõ hành vi của mình là đúng hay sai, mới có thể giám sát, kiểm soát được hành vi của mình. Người chịu trách nhiệm hình sự là người không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình. Pháp luật Việt Nam dựa vào hai tiêu chuẩn để xác định năng lực trách nhiệm hình sự là tiêu chuẩn về y khoa và tiêu chuẩn về tâm thần. Theo tiêu chuẩn y học, chủ thể phạm tội phải là người không trong thời kỳ mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác làm mất khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình. Theo tiêu chuẩn tâm lý: chủ thể tội phạm phải là người nhận thức và tự làm chủ được hành vi của mình, hiểu rõ bản chất của hành vi và làm chủ được hành vi.
- Chủ thể của tội phạm phải là người đã thành niên về mặt hình sự. Điều 12 BLHS quy định người đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm; Người đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý. Tuổi do BLHS quy định là tuổi tính từ ngày sinh đến ngày sinh. Việc xác định tuổi căn cứ vào giấy khai sinh, sổ hộ khẩu. Nếu không xác định được tuổi thì phải tiến hành giám định tuổi.
Ngoài các dấu hiệu trên, có những tội phạm phải do chủ thể có điều kiện đặc biệt thực hiện. Chủ thể có dấu hiệu như vậy được gọi là chủ thể đặc biệt. Dấu hiệu của chủ thể đặc biệt bao gồm dấu hiệu về chức vụ, quyền hạn; dấu hiệu nghề nghiệp, tính chất công việc; dấu hiệu giới tính, dấu hiệu quan hệ gia đình, họ hàng.
Mặc dù nhân thân của người phạm tội không phải là dấu hiệu của chủ thể nhưng khi truy cứu trách nhiệm hình sự luôn phải làm rõ các đặc điểm về nhân thân của người phạm tội, cụ thể là các đặc điểm về lịch sử tư pháp của người đó như tiền án, tiền sự. , việc áp dụng hình phạt thích đáng, nhằm có hiệu quả giáo dục, cải tạo người phạm tội.
4. Thế nào là mặt khách quan của tội phạm?
Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện ra bên ngoài của tội phạm. Biểu hiện cơ bản của mặt khách quan là hành vi khách quan gây thiệt hại cho xã hội, thường được gọi là hành vi khách quan. Biểu hiện thứ hai của mặt khách quan là hậu quả bất lợi (do hành vi khách quan gây ra) thường được gọi là hậu quả của tội phạm. Ngoài hai biểu hiện này còn có những biểu hiện khác của mặt khách quan, đó là công cụ, phương tiện được sử dụng, thời điểm, địa điểm xảy ra hành vi “khách quan”... Bất cứ tội phạm cụ thể nào cũng có những đặc điểm riêng. mặt khách quan được thể hiện ra bên ngoài. Không có những biểu hiện bên ngoài này thì không có các yếu tố cấu thành tội phạm khác và do đó không có tội phạm.
5. Mặt chủ quan của tội phạm là gì?
Mặt chủ quan của tội phạm là những biểu hiện tâm lý bên trong của tội phạm. Trong đó, về mặt diễn đạt cơ bản là lỗi của chủ thể. Chủ thể của tội phạm phải có lỗi khi thực hiện hành vi khách quan gây thiệt hại. Lỗi này có thể cố ý hoặc không. Việc thực hiện hành vi khách quan có hại có thể được thúc đẩy bởi những động cơ khác nhau và vì những mục đích nhất định. Các động cơ và mục đích này được gọi trong các tội cố ý là động cơ phạm tội và mục đích phạm tội.
6. Khách thể của tội phạm là gì?
Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội bị tội phạm xâm phạm. Mọi hành vi phạm tội tác động hoặc có ý định tác động đến các quan hệ xã hội nhất định đều được luật hình sự bảo vệ. Không gây thiệt hại hoặc không nhằm gây thiệt hại cho khách thể của quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ thì hành vi khách quan không gây thiệt hại nên không có tội phạm. Ví dụ-. Tội giết người làm tổn hại đến quan hệ nhân thân; tội trộm cắp tài sản tác động đến quan hệ tài sản...
Tóm lại, theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam, bất kỳ tội phạm nào, dù là tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng, dù bị phạt tù chung thân, tử hình hay chỉ là tù chung thân. Phạt tiền còn là sự thống nhất giữa mặt khách quan và mặt chủ quan - giữa những biểu hiện bên ngoài và những quan hệ tinh thần bên trong là biết bao hành vi cụ thể của con người, gây tổn hại hoặc nhằm gây tổn hại cho những quan hệ xã hội nhất định. Sự thống nhất của các yếu tố này là hình thức cấu trúc, thể hiện đặc điểm nội dung của tội phạm. Nếu xét về nội dung, các tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau thì xét về cấu trúc, bốn yếu tố cấu thành tội phạm cũng có những biểu hiện khác nhau về nội dung. Chính sự khác biệt này quyết định tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm. Ví dụ, tội giết người (Điều 123 BLHS) và tội vô ý làm chết người (Điều 128 BLHS) khác nhau về tính chất nguy hiểm cho xã hội do có sự khác nhau về lỗi về mặt chủ quan của các bị cáo. tội phạm; Tội gây nguy hiểm cho an ninh trật tự (Điều 118 BLHS) và tội gây rối trật tự công cộng (Điều 318 BLHS) khác nhau về tính chất nguy hiểm cho xã hội do sự khác nhau về yếu tố khách quan mà mục đích của tội phạm. được hướng tới.
Mỗi yếu tố này đều có ý nghĩa riêng của nó. Trong một hành vi phạm tội cụ thể, một số yếu tố có thể ảnh hưởng đến mức độ nghiêm trọng của tội phạm nhiều hơn những yếu tố khác. Nhưng điều đó không có nghĩa là các yếu tố khác không quan trọng. Bốn yếu tố cấu thành tội phạm phụ thuộc lẫn nhau và cùng xác định tính chất nguy hiểm của tội phạm. Mỗi yếu tố chỉ có một ý nghĩa độc lập khi được nghiên cứu về mặt lý thuyết.
Trên thực tế, mỗi yếu tố chỉ tồn tại với tư cách là bộ phận cấu thành của đơn vị tội phạm. Không có yếu tố nào thì không có tội phạm.
Quan điểm về bốn yếu tố cấu thành tội phạm như đã trình bày có thể tìm thấy trong các tài liệu giảng dạy ở Việt Nam hiện nay. Ở nước ngoài, Trung Quốc cũng có quan điểm tương tự, nhưng nhiều quốc gia khác, bao gồm Áo, Pháp và Hàn Quốc, cho rằng tội phạm có hai mặt: mặt khách quan của tội phạm và mặt chủ quan của tội phạm. Trong đó, mặt khách quan bao gồm cả chủ thể của tội phạm và khách thể của tội phạm.
Nội dung bài viết:
Bình luận