Trong các giao dịch dân sự đều có sự hiện diện của tài sản. Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta tham gia vào nhiều quan hệ dân sự. Vậy tài sản là gì? Hàng hóa được phân loại như thế nào?... Tất cả đã được quy định trong Bộ luật dân sự 2015.
1. Khái quát về Tài sản theo Luật Dân sự 2015
Tài sản trước hết là những điều kiện vật chất để nuôi sống con người (lương thực, thực phẩm), tài sản còn là những vật chất khác do con người sáng tạo ra, sở hữu, sử dụng nhằm duy trì, bảo vệ cuộc sống và phát triển (nhà ở, tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng và hàng hóa khác,...).
Như vậy, tài sản là một thuật ngữ pháp lý phổ biến được sử dụng trong xã hội cùng với tài sản tư nhân, nhà nước và pháp luật. Theo từ điển tiếng Việt, tài sản là tài sản hay tinh thần nói chung chứa đựng trong tài sản của một người.
Bộ luật Dân sự năm 2015 đưa ra khái niệm về quyền sở hữu như sau:
“Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản” (khoản 1 Điều 105).
Theo quy định tại khoản 1 Điều 105 BLDS 2015, tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản.
1.1 Thuộc tính là một đối tượng
Vật thể là một bộ phận của thế giới vật chất, tồn tại khách quan mà con người có thể nhận thức được bằng các giác quan. Tuy nhiên, không phải mọi sự vật trong thế giới khách quan đều là khách thể trong quan hệ pháp luật dân sự. Khái niệm vật trong BLDS dùng để chỉ những vật mà con người có thể chiếm hữu được, chi phối được, có thể cân, đo, đong đếm, xác định được bề rộng, bề dài, theo sự tồn tại và vật hình thành trong tương lai và con người phải khai thác được, sử dụng được phục vụ cho lợi ích của mình. Như vậy, ngoài yếu tố là bộ phận của yếu tố vật chất, đáp ứng được nhu cầu của con người, vật có thực với tính cách là tài sản phải nằm trong sự chiếm hữu của con người, có đặc trưng giá trị và trở thành đối tượng của giao lưu dân sự. Xét về mặt vật lý, vật chất tồn tại dưới ba dạng: rắn, lỏng, khí.
Xét theo cấu tạo hóa, lý, sinh và công dụng của vật thì: vật còn được xác định là vật chính và vật phụ (Điều 110, ví dụ: điện thoại là vật chính, vỏ ốp của chiếc điện thoại đấy là vật phụ), vật chia được và vật không chia được (Điều 111, ví dụ: gạo, xăng, dầu là những vật chia được; giường, tủ, bàn là những vật không chia được), vật tiêu hao và vật không tiêu hao (Điều 112, ví dụ: xà phòng qua một lần sử dụng bị giảm trọng lượng là vật tiêu hao; ngôi nhà, chiếc xe ô tô là vật không tiêu hao), vật cùng loại và vật đặc định (Điều 113, ví dụ: gạo, sữa là vật cùng loại còn bức tranh nàng Monalisa có chữ kí tác giả là vật đặc định), vật đồng bộ (Điều 114, ví dụ: đôi giày). Cách phân loại vật trong BLDS là căn cứ để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ có đối tượng là vật trong việc chuyển giao, đồng thời là căn cứ pháp lý để giải quyết các tranh chấp có đối tượng là vật phát sinh từ các quan hệ nghĩa vụ và hợp đồng dân sự cụ thể. Xét về chế độ pháp lý, vật được phân thành: vật tự do lưu thông (vật lưu thông không có điều kiện, tự do trao đổi, thuê, mượn, cho... và là giao dịch của các giao dịch dân sự), cấm lưu thông (vật cần có những điều kiện nhất định về đối tượng, hình thức, thủ tục,... như thuốc chữa bệnh) và cấm lưu hành (chẳng hạn vật tuyệt đối cấm lưu hành).
1.2 Tài sản là tiền
Tiền trong kinh tế chính trị là một vật ngang giá phổ biến được sử dụng làm thước đo giá trị của các tài sản khác. Một tài sản ngày nay được coi là tiền khi nó có giá trị lưu thông thực sự. Tiền có các chức năng như trao đổi, thanh toán, dự trữ và xét về chủ quyền quốc gia, tiền có chức năng bình ổn giá cả và giữ vững chủ quyền quốc gia. Tuy nhiên, chỉ có mệnh giá đồng Việt Nam (VND) mới có thể lưu hành trong các giao dịch dân sự của Việt Nam.
1.3 Tài sản là giấy tờ quý
Giấy tờ có giá là tài sản rất phổ biến trong giao dịch dân sự hiện nay, đặc biệt là giao dịch trong hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác. Giấy tờ có giá được hiểu là giấy tờ có giá trị bằng tiền và có thể chuyển nhượng trong trao đổi dân sự. Theo mục 4 Pháp lệnh Ngoại hối 2005, giấy tờ có giá là trái phiếu chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp, kỳ phiếu, cổ phiếu v.v. Tuy nhiên, các giấy tờ như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản liền kề trên đất, sổ hưu, sổ tiết kiệm, giấy nhận nợ không phải là giấy tờ có giá; Chỉ có số dư trong tài khoản ngân hàng hoặc tài khoản tiết kiệm mới là tài sản. 1.4 Quyền sở hữu là quyền tài sản
Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về quyền tài sản như sau:
“Quyền tài sản là quyền có giá trị bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với các đối tượng là quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác”. Khái quát hơn, quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, có thể chuyển giao được trong các quan hệ pháp luật dân sự.
Ví dụ: Quyền sáng chế, sáng chế máy gặt lúa, xe lăn cho người tàn tật, giống cây trồng, vật nuôi mới… được pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ bảo hộ.
Có thể thấy:
Tài sản trên thực tế tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, vô cùng phong phú và đa dạng. Tuy nhiên, mỗi loại tài sản có những đặc điểm riêng biệt đòi hỏi phải có quy định quản lý riêng. Vì vậy, việc phân loại tài sản không chỉ cần thiết trong hoạt động lập pháp mà còn cần thiết trong thực tiễn áp dụng pháp luật. BLDS 2015 dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại hàng hóa
2. Phân loại hàng hóa theo quy định của Luật Dân sự 2015
2.1 Dựa trên tính chất vật lý
Căn cứ vào tính chất của tài sản, BLDS 2015 chia tài sản thành động sản và bất động sản. Khoản 2 Điều 105 BLDS 2015 quy định như sau:
“Tài sản bao gồm bất động sản và động sản…”.
Khái niệm bất động sản và động sản được quy định tại Điều 107 Bộ luật Dân sự 2015 như sau:
"Đầu tiên. Bất động sản bao gồm:
một địa hình;
b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất;
c) Tài sản khác gắn liền với đất, nhà, công trình xây dựng;
đ) Tài sản khác theo quy định của pháp luật;
2. Đồ đạc là tài sản không phải là bất động sản”.
Tương tự như định nghĩa về tài sản, BLDS sử dụng phương pháp liệt kê để định nghĩa về bất động sản. Bất động sản là đất đai và tài sản là nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất và bản chất của tài sản đó là không thể dịch chuyển về mặt cơ học (có thể hiểu cụ thể là nếu di dời tài sản đó ra khỏi đất thì sẽ bị hư hỏng hoặc không thể trở lại trạng thái ban đầu). Đất rõ ràng là bất động sản. Tài sản gắn liền với đất như nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất là bất động sản. Loại tài sản thứ ba là những tài sản mà sự tồn tại của chúng không thể tách rời khỏi đất đai. Theo đối tượng, các quyền thuộc về bất động sản là quyền tài sản, quyền sử dụng, quyền sử dụng và ở, quyền cho thuê dài hạn, quyền dịch thuật, quyền thế chấp bất động sản, quyền chiếm hữu và quyền kiện đòi tài sản.
Bất động sản là tài sản không phải là bất động sản. Tùy theo tính chất của vật thể, đó là những vật thể di động như tàu, thuyền, nhà cửa, có thể tháo rời mà không bị hư hỏng,... Về quyền vật chất, đó có thể là quyền ra tòa đòi động sản, quyền sở hữu sản phẩm trí tuệ (văn học, khoa học, y học,...)...
Cách thức phân loại hàng hóa thành bất động sản và động sản chủ yếu dựa vào đặc điểm vật chất của tài sản đó là động sản hay không di chuyển được. Cách phân loại này là tiêu chí được hầu hết pháp luật các nước trên thế giới sử dụng bởi việc xác lập và thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến hai loại tài sản này là rất khác nhau, đòi hỏi phải có những quy định điều chỉnh riêng đối với từng loại. Việc phân chia tài sản thành bất động sản và động sản có nhiều ý nghĩa bởi tài sản là công cụ quan trọng trong đời sống xã hội, nó gắn liền với hàng loạt vấn đề pháp lý như thuế má, thừa kế, giao dịch dân sự,… cũng như trong thực tiễn của các quy ước dân sự.
Việc xác định tài sản là động sản hay bất động sản là cơ sở để xác lập thủ tục đăng ký tài sản. Khoản 1 và khoản 2 Điều 106 BLDS 2015 về đăng ký tài sản quy định:
"Đầu tiên. Quyền sở hữu và các quyền khác đối với bất động sản phải được đăng ký theo quy định của Bộ luật này và Luật đăng ký tài sản;
2. Quyền sở hữu và các quyền khác đối với động sản không bắt buộc phải đăng ký, trừ trường hợp Luật đăng ký tài sản có quy định khác.
Như vậy, đối với động sản: chiếm hữu là sự thể hiện công khai quyền sở hữu. Tuy nhiên, đối với bất động sản, đăng ký là một biện pháp công khai các quyền đối với bất động sản. Để được công nhận là chủ sở hữu, người có tài sản là bất động sản phải đăng ký tài sản, trong đó chủ thể có chứng cứ chứng minh mình là chủ sở hữu tài sản.
Việc phân loại còn là cơ sở để xác định thời điểm chuyển giao quyền sở hữu đối với động sản, bất động sản, địa điểm thực hiện nghĩa vụ chuyển giao bất động sản, các giao dịch liên quan đến bất động sản... Việc xác định quyền sở hữu là bất động sản, động sản cũng là cơ sở để xác định quyền của chủ thể đối với từng loại tài sản. Đối với động sản, chủ sở hữu là người có quyền định đoạt, chiếm hữu, sử dụng. Chủ sở hữu có thể ủy quyền cho người khác chuyển nhượng, chiếm hữu, sử dụng hoặc chuyển giao một trong các quyền này cho người khác bằng giao dịch dân sự. Đối với bất động sản là tài sản gắn liền với đất, khó di dời, có giá trị sử dụng cao nên vấn đề quyền sở hữu, quyền sử dụng bất động sản được xác định rõ ràng, khác với động sản. Bất động sản là đất đai, pháp luật quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu. Nhưng chủ thể sử dụng đất trước hết là cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình v.v. Các chủ thể này không có quyền sở hữu đất mà chỉ có quyền sử dụng đất. Đối với bất động sản, do tính chất là bất động sản nên việc thực hiện quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản này sẽ gặp những hạn chế nhất định. Do đó, BLDS cũng ghi nhận chủ sở hữu có một số quyền đối với tài sản của người khác nếu đó là nhà cửa. Được quy định cụ thể tại các điều khoản tại Mục 1 Chương XIV Phần II Bộ luật Dân sự năm 2015.
2.2 Căn cứ vào sự hiện hữu của tài sản
Tài sản hữu hình (hay còn gọi là vật) là bất cứ thứ gì tồn tại dưới dạng vật chất, dưới góc độ pháp lý, là vật có thật trong thế giới vật chất và không trở thành tài sản trừ khi được sở hữu hoặc có thể được sở hữu. Để được chiếm hữu, vật với tư cách là tài sản phải thuộc quyền sở hữu của con người, có đặc điểm giá trị và trở thành đối tượng trao đổi dân sự. Ví dụ: tiền, ô tô, máy tính,... Tài sản vô hình là tài sản không có hình thái vật chất, không nhìn thấy được, không cầm nắm được. Về cơ bản, tài sản vô hình là quyền tài sản, bao gồm quyền tài sản đối với một tài sản hữu hình, còn được gọi là quyền hoặc có thể là một tài sản vô hình khác, và quyền sở hữu giá trị của tiền. Ví dụ: quyền sử dụng đất nông nghiệp, v.v.
Sự phân biệt giữa tài sản vô hình và tài sản hữu hình có ý nghĩa trong việc định giá tài sản, quy định quyền và nghĩa vụ của các bên và cơ chế bảo vệ. Chẳng hạn, trong giao dịch dân sự có tài sản là quyền sử dụng nhà ở (hợp đồng thuê nhà) và giao dịch dân sự có tài sản là xe ô tô (mua - bán) thì quyền của các chủ thể được BLDS quy định là khác nhau cũng như cơ chế bảo vệ khác nhau.
Nội dung bài viết:

Bình luận