Ở nước ta, dân chủ là một trong những vấn đề chính trị - xã hội đặc biệt quan trọng, thu hút sự quan tâm của toàn xã hội. Trên cơ sở kế thừa và phát triển tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin về dân chủ, Hồ Chí Minh khẳng định dân chủ là “dân là chủ” và “dân làm chủ”; phải làm như vậy để người dân có quyền sở hữu, có điều kiện và biết cách kiểm soát, cũng như thụ hưởng quyền sở hữu.

1. Phát triển nhận thức
Thuật ngữ dân chủ lần đầu tiên xuất hiện ở Hy Lạp với ý nghĩa là “quyền lực của nhân dân” (dimokratia), quyền tham gia các hoạt động xã hội.
Ngày nay, dân chủ chủ yếu được xem như một hình thức tổ chức nhà nước, một khái niệm chỉ mối quan hệ giữa dân cư của một quốc gia-nhà nước với nhà nước. Thừa nhận dân chủ với tư cách là một hình thức nhà nước, V.I.Lênin khẳng định: “Dân chủ là nhà nước thừa nhận sự phục tùng của thiểu số trước đa số, tức là tổ chức bảo đảm một giai đoạn bạo lực có hệ thống đối với giai cấp khác. Khác với các hình thức nhà nước khác, trong thể chế dân chủ, quyền của đại bộ phận dân cư trong xã hội, quyền bình đẳng của mọi công dân và tính thượng tôn của pháp luật được ghi nhận và khẳng định. Tất cả các cơ quan quyền lực nhà nước đều phải do nhân dân bầu ra. Dân chủ được thực hiện thông qua hai hình thức cơ bản là dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp.
Ngoài ý nghĩa là một hình thức tổ chức nhà nước, dân chủ còn được hiểu là một giá trị xã hội, là kết quả đấu tranh của nhân dân. Như vậy, dân chủ được thể hiện như một lý tưởng nhân đạo, một giá trị nhân văn. Mặt khác, trong xã hội hiện đại, dân chủ còn được coi là điều kiện tiên quyết để hình thành và phát triển nhân cách toàn diện của các chủ thể chính trị. Đó là sự hình thành thái độ, tính tích cực chính trị, tính chủ động, sáng tạo và tự giác của nhân dân thông qua việc tham gia vào các quá trình chính trị thực tiễn.
Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin, dân chủ là một hiện tượng lịch sử, nó luôn biến đổi dưới những hình thức khác nhau dưới những điều kiện lịch sử của các hình thái kinh tế - xã hội; Từ dân chủ chiếm hữu nô lệ đến dân chủ tư sản rồi đến dân chủ vô sản (dân chủ xã hội chủ nghĩa) đều là những bước tiến bộ, những trình độ phát triển của dân chủ theo hướng ngày càng cao. Dân chủ tư sản tuy được coi là một bước tiến của chế độ chuyên chế phong kiến, nhưng đó là nền dân chủ chỉ dành cho một thiểu số trong xã hội – giai cấp tư sản. Vì vậy, trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Mác và Ăng-ghen đã nhấn mạnh rằng, trong giai đoạn đầu của cách mạng xã hội chủ nghĩa, giai cấp vô sản phải trở thành giai cấp thống trị, phải “giành” được dân chủ”. Theo họ, chỉ có nắm chính quyền nhà nước thì giai cấp vô sản mới có khả năng xây dựng và phát huy nền dân chủ mới - nền dân chủ xã hội chủ nghĩa - và hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình, đó là trước hết phải làm cho nhân dân lao động, chủ thể của xã hội, chủ thể tối cao và duy nhất sở hữu mọi quyền lực. Nói cách khác, nhân dân là chủ sở hữu mọi quyền lực của nhà nước.
Kế thừa và phát triển những tư tưởng sâu sắc của C.Mác và Ph.Ăngghen về dân chủ, trong tác phẩm Nhà nước và cách mạng, V.I.Lênin đã làm rõ sự vận động và sự phát triển biện chứng của dân chủ, chỉ rõ “từ chế độ chuyên chế đến chế độ dân chủ tư sản; từ dân chủ tư sản sang dân chủ vô sản; từ dân chủ vô sản sang phi dân chủ”. Với ý nghĩa là một hình thức nhà nước, dân chủ ra đời, tồn tại và tiêu vong cùng với sự ra đời, tồn tại và tiêu vong của nhà nước. Theo V.I.Lê-nin “Dân chủ cũng là một hình thức của nhà nước và sẽ phải mất đi khi nhà nước diệt vong, nhưng điều đó chỉ xảy ra khi chủ nghĩa xã hội hoàn toàn thắng lợi và được củng cố, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa tư bản toàn trị”. Cần phải hiểu rằng dân chủ với tư cách là một phạm trù chính trị sẽ diệt vong, nhưng với tư cách là một giá trị phổ quát toàn cầu, dân chủ vẫn tồn tại ngay cả sau cái chết của nhà nước.
Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, nền dân chủ đã phát triển lên một tầm cao mới với nội dung cơ bản là chính quyền thuộc về nhân dân, mọi quyền lực thuộc về nhân dân. Bởi vì chủ nghĩa xã hội là một xã hội mới về chất so với các hình thái kinh tế - xã hội trước đây, được xây dựng trên cơ sở một nền kinh tế phát triển cao và có khả năng giải phóng sức sản xuất xã hội khỏi những giới hạn chật hẹp của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa; Do đó, nó có khả năng bảo đảm tiến bộ xã hội cũng như sự phát triển toàn diện của con người.
Nói tóm lại, dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân có quyền làm chủ mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và được bảo đảm bằng pháp luật. Ở nước ta, dân chủ là một trong những vấn đề chính trị - xã hội đặc biệt quan trọng, thu hút sự quan tâm của toàn xã hội. Trên cơ sở kế thừa và phát triển tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin về dân chủ, Hồ Chí Minh khẳng định dân chủ là “dân là chủ” và “dân làm chủ”; phải làm như vậy để người dân có quyền sở hữu, có điều kiện và biết cách kiểm soát, cũng như thụ hưởng quyền sở hữu.
Kế thừa và vận dụng quan điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong những năm trước công cuộc đổi mới hoàn toàn đất nước, khi mới xác định dân chủ. Với tư cách là quyền làm chủ tập thể của người lao động, Đại hội IV Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra quan niệm: “Xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa là xây dựng một xã hội mà người lao động là chủ, là tổ chức của nhân dân lao động, mà nòng cốt là tổ chức công đoàn. của công nhân và nông dân, do giai cấp công nhân lãnh đạo. Nội dung của sở hữu tập thể xã hội chủ nghĩa bao gồm nhiều mặt: tài sản chính trị, kinh tế, xã hội; làm chủ xã hội, làm chủ thiên nhiên, làm chủ mình, làm chủ cả nước, ở mọi địa phương, ở mọi cơ sở. Quyền làm chủ tập thể bao gồm quyền tự do đích thực của cá nhân”.[4] Đồng thời, khẳng định “phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động”, coi việc “xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa” là một trong những “nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”[5].
Trong thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những bước phát triển quan trọng trong nhận thức lý luận về dân chủ và thực hiện dân chủ.
Tại Đại hội VI - Đại hội mở đầu của sự nghiệp đổi mới, khi nhấn mạnh phát huy dân chủ để tạo ra động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển đất nước, Đảng ta đã khẳng định, “trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động”[6], coi “làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa cần phải được thể hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống”[7].
Tại Đại hội VII, khi thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh năm 1991), Đảng ta đã đưa ra một quan niệm mới về dân chủ: “Toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân. Dân chủ gắn liền với công bằng xã hội phải được thực hiện trong thực tế cuộc sống trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội thông qua hoạt động của nhà nước do nhân dân cử ra và bằng các hình thức dân chủ trực tiếp. Dân chủ đi đôi với kỷ luật, kỷ cương phải được thể chế hóa bằng pháp luật và được bảo đảm bằng pháp luật”. Có thể nói, luận điểm trên thể hiện một giai đoạn mới trong nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về dân chủ xã hội chủ nghĩa và từ đó Đảng không dùng các khái niệm “làm chủ tập thể”, “làm chủ tập thể” khi nói về dân chủ.
Vấn đề dân chủ và phát huy dân chủ ngày càng được Đảng Cộng sản Việt Nam quán triệt và thực hiện đầy đủ. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, mở rộng năm 2011), Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ, vừa là mục tiêu, vừa là động lực. lực phát triển đất nước". Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiếp thu và phát triển những giá trị tư tưởng của nhân loại về dân chủ, đặc biệt quán triệt sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và dân chủ xã hội chủ nghĩa. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa được coi là một hình thức chính trị - nhà nước thừa nhận quyền tự do, bình đẳng của công dân, xác định nhân dân là chủ thể của quyền lực và điều này được bảo đảm bằng Hiến pháp và pháp luật. Nền dân chủ ở nước ta do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; là nền dân chủ của đa số, vì đa số và của người lao động; là chế độ mà công nhân làm chủ mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp công nhân”. nông dân và trí thức”[10], được pháp luật bảo đảm; là sự thể hiện quyền lực của nhân dân, tập trung và “thông qua hoạt động của nhà nước, của cả hệ thống chính trị và các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện”[11].
Nội dung cơ bản của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là “tất cả quyền lực thuộc về nhân dân”. Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định bản chất dân chủ xã hội chủ nghĩa gắn liền với quyền làm chủ của nhân dân, dân là gốc, dân là chủ, dân làm chủ. Vì vậy, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là một trong những mục tiêu lớn và là nội dung rất quan trọng của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Thực tiễn xã hội ta hiện nay cho thấy, mọi quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, đều có sự tham gia đóng góp ý kiến của nhân dân. Công nhân là chủ thể của mọi quyền lực; Quyền và nghĩa vụ, quyền và trách nhiệm, cống hiến và niềm vui gắn bó chặt chẽ với nhau. Mọi công dân đều trực tiếp hoặc gián tiếp bày tỏ nguyện vọng, chia sẻ ý kiến với cơ quan nhà nước. Các kênh bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân ngày càng sâu rộng và hoạt động hiệu quả. “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đã trở thành quy chế dân chủ, thành thiết chế trong xã hội; là đồng tiền hành động của nhân dân trong xây dựng hệ thống chính trị; là yêu cầu ứng xử của người chấp hành trong tiếp xúc, quan hệ với nhân dân, chăm lo cho nhân dân. Đặc biệt, Đảng ta cũng đã đưa ra quan điểm khá mới về phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong phản biện xã hội, khẳng định sắp tới cần hoàn thiện cơ chế để nhân dân góp ý, phản biện và giám sát công việc của Đảng, Nhà nước. , đặc biệt là các chính sách kinh tế, xã hội và các quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển lớn. Đồng thời, phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và mỗi người dân trong việc quản lý, tổ chức cuộc sống cộng đồng tuân thủ pháp luật[12].
Như vậy, cùng với sự phát triển của cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những bước phát triển mới trong nhận thức về dân chủ và dân chủ xã hội chủ nghĩa. Dân chủ được xem xét trên nhiều khía cạnh: Dân chủ là chế độ chính trị; dân chủ là một giá trị; dân chủ là phương thức và nguyên tắc tổ chức xã hội; dân chủ chung cho xã hội và dân chủ cho từng cá nhân; dân chủ trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.
2. Kết quả
Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng có đặc điểm chung là do nhân dân làm chủ; nói cách khác, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa. Bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là vai trò của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị, tổ chức xã hội và nhân dân nhằm huy động mọi nguồn lực để đẩy mạnh công cuộc CNH, HĐH của Đảng Cộng sản Việt Nam. đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nó phát huy vai trò tích cực, tự giác và sáng tạo của con người.
Sau hơn 30 năm đổi mới, đất nước ta đã chuyển căn bản từ mô hình kinh tế quan liêu bao cấp sang xây dựng và phát triển mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời đã thực hiện một bước quan trọng là chuyển từ dân chủ nhân dân sang dân chủ nhân dân. chủ nghĩa xã hội. Có thể nói, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là một trong những nhiệm vụ rất lâu dài và rất quan trọng, nhằm bảo đảm tất cả quyền lực thuộc về nhân dân. Việc thực hiện và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa hơn 30 năm qua được tiến hành đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ kinh tế, chính trị đến văn hóa - xã hội, kể cả trong Đảng và ngoài xã hội.
Thứ nhất, dân chủ trong lĩnh vực kinh tế.
Kinh tế là lĩnh vực quan trọng chi phối mọi lĩnh vực khác của đời sống xã hội; Vì vậy, thực hiện dân chủ trong kinh tế là cơ sở để thực hiện dân chủ trong các lĩnh vực khác. Được biết, từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986), với đường lối đổi mới của Đảng, nước ta từng bước chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa, quan liêu bao cấp sang xây dựng mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với sự tồn tại của nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức tổ chức kinh doanh và nhiều hình thức phân phối. Các thành phần kinh tế đều được thừa nhận tồn tại khách quan, bình đẳng trước pháp luật, cùng tồn tại lâu dài, hợp tác và cạnh tranh bình đẳng, là bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân. Nhà nước đã ban hành Hiến pháp và các luật có liên quan, tạo cơ sở pháp lý cho sự vận hành của nền kinh tế nói chung và các chủ thể kinh tế nói riêng như luật đầu tư, luật hợp tác xã, luật doanh nghiệp, luật đất đai... việc các chủ thể kinh tế được tự do sản xuất, kinh doanh mọi điều mà pháp luật không cấm, được tạo điều kiện thuận lợi để sản xuất, kinh doanh phát triển..., đã tạo động lực to lớn cho các thành phần kinh tế nói riêng và các cả nền kinh tế nói chung phát triển mạnh mẽ, góp phần quan trọng đưa nền kinh tế nước ta thoát khỏi khủng hoảng, trở thành nước có thu nhập trung bình khá. Nói cách khác, việc thực hiện dân chủ trong kinh tế đã tạo ra diện mạo mới của nền kinh tế đất nước, thể hiện ở tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao và ổn định trong nhiều năm liên tục, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. một nền kinh tế năng động và đầy triển vọng.
Thực hành dân chủ trước hết là vấn đề sở hữu, trong đó quan trọng nhất là sở hữu kinh tế. Với đường lối đổi mới nền kinh tế, Đảng và Nhà nước ta nhận thức rõ sự tồn tại khách quan, lâu dài của các thành phần kinh tế, đồng thời tạo mọi điều kiện thuận lợi về pháp luật, chính sách, cơ chế... để các thành phần kinh tế, trong đó có khu vực kinh tế tư nhân ngành, phát triển. Đại hội Đảng lần thứ XII đã lãnh đạo phát triển đồng bộ các thị trường chủ yếu - môi trường dân chủ trong lĩnh vực kinh tế. Đảng và Nhà nước chủ trương nâng cao vai trò, hiệu lực quản lý Nhà nước - công cụ pháp lý quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể trong quá trình làm chủ kinh tế; trong đó đặc biệt chú trọng xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển. Nhà nước kiến tạo vì phát triển là mô hình quản lý nhà nước có chức năng chủ yếu là hoạch định chính sách định hướng phát triển, tạo môi trường và điều kiện để các thành phần kinh tế phát huy hết tiềm năng, 'môi trường cạnh tranh và hội nhập quốc tế; tăng cường hoạt động giám sát để phát hiện nhanh những bất cân đối có thể xảy ra, bảo đảm ổn định và phát triển kinh tế vĩ mô.
Thứ hai, dân chủ trong lĩnh vực chính trị.
Hiện nay, ở nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân và của cả dân tộc. Chế độ một đảng lãnh đạo với nhiều đoàn thể quần chúng và tổ chức xã hội phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh lịch sử của đất nước, bảo đảm ổn định chính trị, làm cơ sở cho đất nước ổn định và phát triển bền vững. Một đảng duy nhất đứng đầu, cầm quyền, hoàn toàn không có ảnh hưởng gì đến việc thiết lập nền dân chủ. Thực tiễn cho thấy, qua hơn 30 năm đổi mới, dân chủ nói chung và dân chủ trong lĩnh vực chính trị nói riêng ở nước ta được thực hiện ngày càng tốt hơn và có những tiến bộ rõ rệt. Các tổ chức của hệ thống chính trị đã và đang tiếp tục được đổi mới về tổ chức và phương thức hoạt động; Nhờ đó, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ngày càng được phát huy. Đảng luôn được đổi mới, chỉnh đốn theo hướng ngày càng trong sạch, vững mạnh; Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước, xã hội và trong Đảng thường xuyên được đổi mới. Công tác cán bộ được coi trọng từ khâu phát hiện, đề bạt, đào tạo, luân chuyển, quy hoạch, sử dụng, ngày càng chú trọng chất lượng, hiệu quả, công khai, minh bạch... Thực hiện bầu cử cân đối, ban hành quy chế lấy phiếu bầu trong Đảng . Sự tham gia của tổ chức cơ sở đảng và đảng viên vào việc hoạch định và tổ chức thực hiện các chủ trương, chỉ thị, chính sách của Đảng ngày càng sâu rộng.
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện. Hiến pháp năm 2013 được ban hành với nhiều điểm mới sửa đổi, bổ sung liên quan đến quyền con người, quyền làm chủ của nhân dân. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến tổ chức và hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, các thành phần kinh tế... được cụ thể hóa, thể chế hóa. Hoạt động của Quốc hội ngày càng dân chủ, trong đó tăng cường chất vấn và trả lời chất vấn, công tác bầu cử được nâng cao, việc nhân dân tham gia ý kiến vào các dự án luật của Chính phủ, các chính sách của Quốc hội được tăng cường. Đảng và nhà nước được tôn trọng. Nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội từng bước được đổi mới; Vai trò giám sát, phản biện xã hội được coi trọng. Đặc biệt, Bộ Chính trị đã ban hành “Quy chế giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội” và “Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và Nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. Các hình thức thực hiện dân chủ (dân chủ đại diện, dân chủ trực tiếp) được coi trọng. Việc thực hiện Pháp lệnh về dân chủ cơ sở và Pháp lệnh về thực hiện dân chủ ở đô thị, quận, huyện đã đạt được những kết quả đáng kể. Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc đánh giá kết quả thực hiện Kết luận số 120 của Bộ Chính trị khóa XI về tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao chất lượng, hiệu quả việc xây dựng, tổ chức thực hiện các quy tắc dân chủ ngày 16/7/2018, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: Bầu không khí dân chủ trong Đảng và xã hội được mở rộng.
Thứ ba, dân chủ trong lĩnh vực văn hóa - xã hội.
Trong quá trình đổi mới, Nhà nước đã bảo đảm cho nhân dân các quyền cơ bản như quyền được thông tin, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, quyền tham gia ý kiến xây dựng Đảng, chính quyền, quyền tham gia bàn và quyết định những vấn đề quan trọng trong xây dựng đời sống văn hóa; quyền thảo luận và giám sát các dự án về an sinh xã hội, chống đói nghèo... Nhà nước đã xây dựng hành lang pháp lý làm cơ sở cho việc phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực văn hóa - xã hội thông qua việc ban hành hệ thống các luật liên quan, như luật báo chí, luật xuất bản, luật sở hữu trí tuệ… Nhờ đó, quyền làm chủ của nhân dân trên các lĩnh vực văn hóa - xã hội được tôn trọng, bảo đảm và phát huy. Đặc biệt, dân chủ trong hoạt động lý luận khoa học có nhiều tiến bộ, tạo điều kiện cho các nhà khoa học tranh luận, thảo luận, phát huy khả năng sáng tạo, góp phần tích cực vào việc xây dựng đường lối, chính sách khoa học của Đảng, Nhà nước.
3. Hạn chế và nguyên nhân
Bên cạnh những kết quả đạt được, hiệu quả thực hiện dân chủ vẫn còn những khoảng trống, hạn chế như quyền làm chủ của nhân dân ở một số nơi còn bị vi phạm, việc thực hiện dân chủ còn mang tính hình thức. ... Trong Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn 30 năm đổi mới (1986-2016) vừa qua, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: “Về xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa: Thực hành dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ luật, khuyết điểm, thực tế còn xảy ra tình trạng “thiếu dân chủ, thiếu kỷ cương”. Trong xã hội còn nhiều biểu hiện mất dân chủ, hoặc dân chủ cực đoan; chấp hành pháp luật, kỷ luật, kỷ cương chưa nghiêm, việc thực hành dân chủ, có nơi, có nơi còn hình thức. Trong Đảng, vi phạm chế độ lãnh đạo tập thể và trách nhiệm cá nhân còn xảy ra ở một số nơi. Quyền hạn, trách nhiệm của lãnh đạo, tổ chức đảng, chính quyền chưa được phân định rõ ràng, việc tổ chức thực hiện chưa nghiêm. Chế tài còn thiếu để bảo đảm thực hiện dân chủ và giữ vững kỷ cương”[13].
Những hạn chế, yếu kém trong việc thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa trong thời gian qua do nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan:
Thứ nhất, dân chủ được quyết định bởi trình độ phát triển kinh tế. Ở nước ta, trình độ phát triển kinh tế về cơ bản còn thấp, thể chế kinh tế thị trường còn sơ khai, phát triển chưa đồng bộ và đầy đủ... nên đã hạn chế sự phát triển dân chủ trong xã hội.
Thứ hai, quá độ lên chủ nghĩa xã hội của nước ta bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là chế độ dân chủ tư sản. Hậu quả là nhận thức và khả năng thực hiện dân chủ của người dân còn hạn chế.
Thứ ba, hệ thống pháp luật của nước ta còn thiếu và chưa đồng bộ, còn thiếu các cơ chế, quy định, thiết chế để thực hiện dân chủ, thực hiện quyền tự chủ của nhân dân.
Thứ tư, nhiều cấp bộ đảng, tổ chức nhà nước, cán bộ, đảng viên chưa thực sự là tấm gương dân chủ trong xã hội.[14]
Trước tình hình đó, quan điểm của Đảng là tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả mọi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân; cán bộ, công chức phải hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân. )
Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định dân chủ xã hội chủ nghĩa là mục tiêu, động lực của sự phát triển đất nước, là nhân tố thúc đẩy phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội. Đặc biệt, xuất phát từ vị trí, vai trò và tầm quan trọng của dân chủ, trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011- 2020, Đảng ta đã xác định mở rộng dân chủ là một trong những quan điểm phát triển; đồng thời, khẳng định phải phát huy mạnh mẽ quyền dân chủ của người dân trong việc hoàn thiện và thực thi pháp luật, cơ chế, chính sách phát triển kinh tế - xã hội; nhấn mạnh việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân; đặc biệt là “tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Dân chủ phải được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trên tất cả cáclĩnh vực của đời sống xã hội. Bảo đảm để nhân dân tham gia ở tất cả các khâu của quá trình đưa ra những quyết định liên quan đến lợi ích, cuộc sống của nhân dân”[15].
Nội dung bài viết:
Bình luận