Sự có mặt của người bào chữa

Sự có mặt của người bào chữa

Sự Có Mặt Của Người Bào Chữa
Sự Có Mặt Của Người Bào Chữa

Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về sự có mặt của luật sư bào chữa. Tham gia phiên tòa để bào chữa cho bị cáo là nghĩa vụ của luật sư bào chữa. Trong quá trình xét xử, luật sư bào chữa giúp bị cáo về mặt pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo. Đồng thời, sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm rõ những tình tiết xác định bị cáo vô tội và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Để bảo đảm quyền bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa, luật sư bào chữa có quyền: đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; xuất trình tài liệu, đồ vật, chứng cứ; đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành các thủ tục thu thập chứng cứ, giám định bổ sung, xem xét, định giá lại tài sản; gặp bị cáo; tham gia hỏi; bào chữa trước tòa; khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Luật quy định rằng người bào chữa phải có mặt tại phiên tòa, nhưng điều này không có nghĩa là phiên tòa chỉ được bắt đầu khi người bào chữa có mặt. Do đó, tùy từng trường hợp cụ thể mà Hội đồng xét xử quyết định việc tiếp tục mở hay hoãn phiên tòa khi luật sư bào chữa vắng mặt. 

Theo quy định tại Điều 291 Bộ luật tố tụng hình sự thì: 

 

 - Trường hợp luật sư bào chữa vắng mặt lần đầu vì sự kiện bất khả kháng hoặc  trở ngại khách quan thì Tòa án phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt luật sư. 

 Nếu luật sư bào chữa vắng mặt không có lý do bất khả kháng, trở ngại khách quan hoặc đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Toà án  mở phiên toà luôn. 

 

 Luật quy định người bào chữa có thể nộp trước bản bào chữa cho Tòa án. Thông thường, người bào chữa gửi trước bản bào chữa cho tòa án trong trường hợp họ không thể có mặt tại phiên tòa và yêu cầu tòa án xét xử vắng mặt họ. Nhưng việc nộp trước bản bào chữa cho Tòa án không có nghĩa là người bào chữa không có quyền có mặt tại phiên tòa. Trong phiên tòa, người bào chữa luôn có quyền thay đổi ý kiến ​​của mình về việc bào chữa, bất kể việc bào chữa đã nộp trước cho tòa án. 

 Trường hợp bị cáo phạm tội mà BLHS quy định ở mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình; hoặc nếu bị cáo là người tàn tật không thể tự bào chữa, người thiểu năng trí tuệ, người dưới 18 tuổi  vắng mặt thì Hội đồng xét xử  hoãn phiên tòa, trừ trường hợp sau đây: bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo. bị cáo đồng ý tham gia xét xử vắng mặt luật sư bào chữa.  

 Và trách nhiệm của Công an nhân dân trong việc bảo đảm sự có mặt của người bào chữa được quy định cụ thể tại Điều 11 Thông tư 46/2019/TT-BCA: 

 

 “Điều 11. Bảo đảm sự có mặt của luật sư bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khi tiến hành  hoạt động tư pháp 

 

  1. Cơ quan  thụ lý vụ án, vụ việc thông báo trước  thời gian, địa điểm tiến hành tố tụng mà luật sư bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người bị tố cáo, người bị tố cáo. người bị yêu cầu khởi tố có quyền tham gia ít nhất là 24 giờ trong trường hợp luật sư bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cư trú trong cùng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương với cơ quan  thụ lý vụ án.48 giờ đối với luật sư bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cư trú ở các tỉnh, thành phố khác nhau và cơ quan trực thuộc Trung ương  đang thụ lý vụ việc, vụ việc trước ngày tiến hành  tố tụng. Trường hợp luật sư bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp thỏa thuận với Điều tra viên, Cán bộ điều tra về thời hạn sớm hơn thì việc thực hiện các hoạt động tố tụng được thực hiện theo thỏa thuận này. 
  2. Trường hợp người bào chữa đã được cơ quan  thụ lý vụ án thông báo  mà không có mặt thì thủ tục tố tụng vẫn được tiếp tục, trừ trường hợp quy định tại Điều 291 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Trong trường hợp không có mặt người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị đề nghị khởi tố  thì việc khởi tố  vẫn được tiếp tục. 
  3. Khi lấy lời khai của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, hỏi cung bị can, Điều tra viên, cán bộ điều tra, luật sư bào chữa phải thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 73 của Bộ luật hình sự. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, nội quy nhà tạm giữ, trại tạm giam và các quy định khác của pháp luật  có liên quan. Nếu phát hiện người bào chữa có vi phạm pháp luật thì Điều tra viên hoặc Cán bộ điều tra phải dừng ngay việc lấy lời khai, hỏi cung bị can và lập biên bản, báo cáo Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan có thẩm quyền điều tra. Trong trường hợp Điều tra viên, cán bộ điều tra vi phạm pháp luật thì người bào chữa có quyền báo cáo hành vi vi phạm đó với Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra. Trong quá trình lấy lời khai của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, hỏi  bị can, nếu Điều tra viên đồng ý cho hỏi người bào chữa  thì phải đăng ký việc hỏi và trả lời của luật sư cho người bào chữa. người bị tạm giữ, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị cáo trong biên bản xét xử người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, biên bản hỏi cung bị cáo. Khi kết thúc việc lấy lời khai và hỏi cung bị can, Điều tra viên hoặc Cán bộ điều tra phải đọc lại hoặc nhờ người bào chữa xem lại biên bản lấy lời khai, biên bản khám nghiệm. Sau khi xác định đúng nội dung câu hỏi của luật sư bào chữa, câu trả lời của người bị tạm giữ, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can thì Điều tra viên hoặc Cán bộ điều tra hỏi cung người bị bắt, tạm giam. người bào chữa đã ký vào biên bản. Trong trường hợp thấy biên bản không đầy đủ, không chính xác với nội dung của phần hỏi và  trả lời thì luật sư bào chữa có quyền yêu cầu sửa đổi, bổ sung hoặc ghi ý kiến ​​của mình trước khi ký vào biên bản lời nói. 
  4. Khi lấy lời khai người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, Điều tra viên, Cán bộ điều tra và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, kiến nghị khởi tố phải thực hiện theo quy định của điểm c khoản 3 Điều 83 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trường hợp Điều tra viên, Cán bộ điều tra đồng ý cho người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, kiến nghị khởi tố được hỏi thì phải ghi câu hỏi của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, câu trả lời của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố vào biên bản lấy lời khai. Khi kết thúc việc lấy lời khai, Điều tra viên, Cán bộ điều tra phải đọc lại hoặc đưa cho người bào chữa đọc lại biên bản lấy lời khai, sau khi xác nhận đúng nội dung câu hỏi của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, câu trả lời của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố thì Điều tra viên, Cán bộ điều tra yêu cầu người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố ký vào biên bản. Trường hợp biên bản ghi chưa đầy đủ, chưa chính xác nội dung câu hỏi và câu trả lời, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có quyền đề nghị sửa đổi, bổ sung hoặc ghi ý kiến của mình trước khi ký vào biên bản.
  5. Theo yêu cầu của luật sư bào chữa, Điều tra viên phải xác nhận thời gian làm việc có hiệu lực của luật sư bào chữa tham gia tố tụng trong quá trình điều tra vụ án hình sự.

 

Nội dung bài viết:

    Hãy để lại thông tin để được tư vấn

    comment-blank-solid Bình luận

    084.696.7979 19003330 Báo giá Chat Zalo