Cách quyết toán thuế TNCN khi có thu nhập 2 nơi

Hiện nay, việc một người lao động làm việc tại nhiều nơi để tăng thu nhập là khá phổ biến. Tuy nhiên, điều này cũng dẫn đến vấn đề cần thực hiện quyết toán thuế TNCN phức tạp hơn. Trong bài viết này, ACC sẽ hướng dẫn chi tiết cách thức quyết toán thuế TNCN khi có thu nhập từ 2 nơi, bao gồm các trường hợp ủy quyền và trực tiếp quyết toán với cơ quan thuế.

Cách quyết toán thuế TNCN khi có thu nhập 2 nơi

Cách quyết toán thuế TNCN khi có thu nhập 2 nơi

1. Quy định về đối tượng thực hiện việc quyết toán thuế TNCN 2 nơi

Căn cứ pháp lý: Mục I Công văn số 883/TCT-DNNCN về việc Hướng dẫn quyết toán thuế TNCN

Trường hợp 1. Cá nhân trực tiếp quyết toán thuế với cơ quan thuế

Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên tại một đơn vị, đồng thời có thu nhập vãng lai chưa khấu trừ thuế.

Trường hợp 2. Tổ chức, cá nhân trả thu nhập từ tiền lương, tiền công

Có trách nhiệm khai quyết toán thuế TNCN không phân biệt có phát sinh khấu trừ thuế hay không.

Có trách nhiệm quyết toán thuế TNCN thay cho cá nhân có ủy quyền.

Trường hợp 3. Đối với ủy quyền quyết toán thuế thu nhập cá nhân

Cá nhân có thu nhập tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên tại một tổ chức trả thu nhập, đồng thời có thu nhập vãng lai ở các nơi khác bình quân tháng trong năm không quá 10 triệu đồng đã được khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10%.

Lưu ý: Sau khi ủy quyền, nếu cá nhân thuộc diện trực tiếp quyết toán thuế

  • Tổ chức trả thu nhập không điều chỉnh lại quyết toán.
  • Chỉ cấp chứng từ khấu trừ thuế theo số quyết toán.
  • Ghi chú vào góc dưới bên trái của chứng từ.

2. Cách tính thuế TNCN khi có thu nhập từ 2 nơi

Cách tính thuế TNCN khi có thu nhập từ 2 nơi

Cách tính thuế TNCN khi có thu nhập từ 2 nơi

2.1. Khấu trừ thuế 

Khấu trừ thuế chính là việc mà tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện tính trừ số thuế phải nộp vào thu nhập của người nộp thuế trước khi trả thu nhập.”

Cụ thể tại điểm b khoản 1 Điều 25 VBHN số 02/VBHN-BTC năm 2024 về hướng dẫn thực hiện Luật Thuế TNCN có quy định về việc khấu trừ thuế TNCN khi có thu nhập từ 2 nơi, gồm 2 trường hợp như sau:

Trường hợp 1. Cá nhân có thu nhập từ nhiều nơi và ký HDLD từ 03 tháng trở lên thì tính thuế TNCN theo Biểu thuế lũy tiến từng phần tại tất cả các nơi đó.

Công thức tính như sau: 

Thuế TNCN = Thu nhập tính thuế (TNTT) x Thuế suất

Biểu thuế suất:

Bậc thuế

Phần thu nhập tính thuế/năm
(triệu đồng)

Phần thu nhập tính thuế/tháng
(triệu đồng)

Thuế suất (%)

1

Đến 60

Đến 5

5

2

Trên 60 đến 120

Trên 5 đến 10

10

3

Trên 120 đến 216

Trên 10 đến 18

15

4

Trên 216 đến 384

Trên 18 đến 32

20

5

Trên 384 đến 624

Trên 32 đến 52

25

6

Trên 624 đến 960

Trên 52 đến 80

30

7

Trên 960

Trên 80

35

Ví dụ: Chị Ngọc ký HDLD 3 năm với Ngân hàng Nam Á Bank. Trong trường hợp này, khi tính thuế TNCN tại Nam Á Bank, chị Ngọc sẽ được tính theo biểu thuế lũy tiến từng phần.

Trường hợp 2. Cá nhân có thu nhập từ nhiều nơi trong đó có nơi không ký HDLD hoặc ký HDLD dưới 3 tháng (thời vụ, giao khoán...) có tổng mức trả thu nhập từ hai triệu (2.000.000) đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập trước khi trả cho cá nhân (Không được làm cam kết vì có thu nhập 2 nơi).

Ví dụ: Anh Tuấn - một freelancer (làm việc tự do) nhận thiết kế logo cho công ty B với giá 10 triệu đồng. Anh Tuấn không ký HDLD với công ty. Do đó, công ty phải khấu trừ thuế TNCN 10% cho anh Tuấn, tương đương 1 triệu đồng. Anh Tuấn sẽ nhận được 9 triệu đồng sau khi khấu trừ thuế.

Lưu ý: Trường hợp cá nhân chỉ có thu nhập chịu khấu trừ 10% nhưng ước tính tổng thu nhập sau khi trừ gia cảnh không chịu thuế thì giải quyết như sau:

Cá nhân làm cam kết theo mẫu do cơ quan thuế quy định.

Tổ chức trả thu nhập tạm thời không khấu trừ thuế dựa trên cam kết.

Cuối năm, tổ chức trả thu nhập tổng hợp danh sách và thu nhập của cá nhân chưa đến mức khấu trừ thuế để nộp cho cơ quan thuế.

Cá nhân chịu trách nhiệm về cam kết của mình và có thể bị xử lý theo quy định của Luật quản lý thuế nếu gian lận.

Cá nhân làm cam kết phải đăng ký thuế và có mã số thuế tại thời điểm cam kết.

2.2. Giảm trừ gia cảnh

Theo điểm a khoản 1 Điều 9 Thông tư số 111/2013/TT-BTC định nghĩa về Giảm trừ gia cảnh như sau:

Giảm trừ gia cảnh là số tiền được trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ kinh doanh, thu nhập từ tiền lương, tiền công của người nộp thuế là cá nhân cư trú.”

Mức giảm trừ gia cảnh

Căn cứ Nghị quyết số 954/2020/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, mức giảm trừ gia cảnh hiện nay được quy định như sau:

Đối với người nộp thuế: 11 triệu đồng/tháng (132 triệu đồng/năm)

Đối với người phụ thuộc: 4,4 triệu đồng/tháng/người

Bên cạnh đó, tại điểm c.1.1 và điểm i khoản 1 Điều 9 Thông tư số 111/2013/TT-BTC quy định:

c.1.1) Người nộp thuế có nhiều nguồn thu nhập từ tiền lương, tiền công, từ kinh doanh thì tại một thời điểm (tính đủ theo tháng) người nộp thuế lựa chọn tính giảm trừ gia cảnh cho bản thân tại một nơi.

i) Người nộp thuế chỉ phải đăng ký và nộp hồ sơ chứng minh cho mỗi một người phụ thuộc một lần trong suốt thời gian được tính giảm trừ gia cảnh. Trường hợp người nộp thuế thay đổi nơi làm việc, nơi kinh doanh thì thực hiện đăng ký và nộp hồ sơ chứng minh người phụ thuộc như trường hợp đăng ký người phụ thuộc lần đầu theo hướng dẫn tại tiết h.2.1.1.1, điểm h, khoản 1, Điều này.”

Như vậy, một người có thu nhập từ nhiều nơi trong cùng 01 tháng thì chỉ được tính giảm trừ bản thân tại 1 nơi và có thể đăng ký lấy giảm trừ người phụ thuộc tại một nơi khác với nơi đang lấy giảm trừ bản thân.

Điều kiện để được tính giảm trừ người phụ thuộc

Người nộp thuế phải thực hiện đăng ký giảm trừ cho người phụ thuộc theo quy định. Trường hợp người nộp thuế chưa tính giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc trong năm tính thuế thì được tính giảm trừ cho người phụ thuộc kể từ tháng phát sinh nghĩa vụ nuôi dưỡng khi người nộp thuế thực hiện quyết toán thuế và có đăng ký giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc.

Trường hợp người nộp thuế thuộc diện ủy quyền quyết toán chưa tính giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc trong năm tính thuế thì cũng được tính giảm trừ cho người phụ thuộc kể từ tháng phát sinh nghĩa vụ nuôi dưỡng khi người nộp thuế thực hiện quyết toán ủy quyền và có đăng ký giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc thông qua tổ chức trả thu nhập.

2.3. Ví dụ

Anh Bình, ký HDLD 1 năm với Công ty phần mềm X với mức lương 23 triệu đồng/tháng đồng thời ký HDLD 06 tháng với Công ty thiết kế Y với mức lương 18 triệu đồng/tháng.

Tại công ty X (đăng ký giảm trừ bản thân, đăng ký giảm trừ người phụ thuộc 1)

Tính theo biểu thuế lũy tiến từng phần

Cách tính thuế như sau

Thu nhập tính thuế (TNTT) = 23.000.000 - 11.000.000 - 4.400.000 = 7.600.000

Bậc 1: TNTT đến 05 triệu đồng, thuế suất 5%: 

Thuế TNCN = 5.000.000 x 5% = 250.000

Bậc 2. TNTT trên 05 đến 10 triệu đồng, thuế suất 10%: 

Thuế TNCN = (7.600.000 - 5.000.000) x 10% = 260.000

Vậy tổng thuế TNCN anh Bình phải nộp tại Công ty X là: 510.000

Tại Công ty Y (đăng ký giảm trừ người phụ thuộc 2)

Tính theo biểu thuế lũy tiến từng phần

Cách tính thuế như sau:

TNTT = 18.000.000 - 4.400.000 = 13.600.000

Bậc 1: TNTT đến 05 triệu đồng, thuế suất 5%: 

Thuế TNCN = 5.000.000 x 5% + 250.000

Bậc 2. TNTT trên 05 đến 10 triệu đồng, thuế suất 10%: 

Thuế TNCN = (10.000.000 - 5.000.000) x 10% = 500.000

Bậc 3. TNTT trên 10 đến 18 triệu đồng, thuế suất 15%:

Thuế TNCN = (13.600.000 - 10.000.000) x 15% = 540.000

Vậy tổng thuế TNCN anh Bình phải nộp tại Công ty X là: 1.290.000

3. Câu hỏi thường gặp

3.1. Cá nhân có thu nhập 2 nơi có được ủy quyền quyết toán thuế TNCN không?

Việc uỷ quyền quyết toán thuế TNCN trước tiên cần đáp ứng 02 điều kiện chính như sau:

  • Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên.
  • Cá nhân đang làm việc tại một nơi vào thời điểm quyết toán thuế.

Do vậy, về nguyên tắc cá nhân có thu nhập 2 nơi thì không được uỷ quyền toán thuế TNCN bao gồm cả trường hợp ký 02 hợp đồng riêng biệt và khấu trừ, kê khai nộp thuế TNCN hàng kỳ theo biểu lũy tiến từng phần.

Tuy nhiên, trường hợp cá nhân có thu nhập 2 nơi trong đó 01 thu nhập là vãng lai ở nơi khác bình quân không quá 10 triệu đồngkhấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% thì vẫn được uỷ quyền quyết toán thuế TNCN.

3.2. Một người nộp thuế có được đăng ký nhiều người phụ thuộc không?

Hiện nay, chưa có VBPL nào quy định về giới hạn số lượng người phụ thuộc được đăng ký cho một người nộp thuế. Do đó, một người nộp thuế có thể đăng ký không giới hạn người phụ thuộc miễn là người phụ thuộc phải đáp ứng đủ các điều kiện được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 9 Thông tư số 111/2013/TT-BTC:

Đối tượng

Điều kiện

Con đẻ, con nuôi hợp pháp, con ngoài giá thú, con riêng của vợ, con riêng của chồng

+ Con dưới 18 tuổi (tính đủ theo tháng).

+ Con từ 18 tuổi trở lên bị khuyết tật, không có khả năng lao động

+ Con đang theo học tại Việt Nam hoặc nước ngoài tại bậc học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, kể cả con từ 18 tuổi trở lên đang học bậc học phổ thông (tính cả trong thời gian chờ kết quả thi đại học từ tháng 6 đến tháng 9 năm lớp 12) không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá 1.000.000 đồng.

+ Vợ hoặc chồng

+ Cha đẻ, mẹ đẻ; cha vợ, mẹ vợ (hoặc cha chồng, mẹ chồng); cha dượng, mẹ kế; cha nuôi, mẹ nuôi hợp pháp 

+ Anh ruột, chị ruột, em ruột 

+ Ông nội, bà nội; ông ngoại, bà ngoại; cô ruột, dì ruột, cậu ruột, chú ruột, bác ruột

+ Cháu ruột

+ Người phải trực tiếp nuôi dưỡng khác theo quy định của pháp luật.

- Đối với người trong độ tuổi lao động phải đáp ứng đồng thời các điều kiện sau:

+ Bị khuyết tật, không có khả năng lao động.

+ Không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá 1.000.000 đồng.

- Đối với người ngoài độ tuổi lao động phải không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá 1.000.000 đồng.

Người khuyết tật, không có khả năng lao động là người thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật về người khuyết tật, người mắc bệnh không có khả năng lao động như AIDS, ung thư, suy thận mãn,...

3.3. Trường hợp nhiều người nộp thuế có chung một người phụ thuộc thì giải quyết như thế nào?

Dựa vào điểm c.2.4 khoản 1 Điều 9 Thông tư số 111/2013/TT-BTC có hướng dẫn như sau: 

Mỗi người phụ thuộc chỉ được tính giảm trừ một lần vào một người nộp thuế trong năm tính thuế. Trường hợp nhiều người nộp thuế có chung người phụ thuộc phải nuôi dưỡng thì người nộp thuế tự thỏa thuận để đăng ký giảm trừ gia cảnh vào một người nộp thuế.

3.4. Cá nhân có thu nhập từ 2 nơi trở lên đóng các loại Bảo hiểm như thế nào?

Theo khoản 1 Điều 42 VBHN số 2089/VBHN-BHXH hướng dẫn như sau:

Người lao động đồng thời có từ 02 HĐLĐ trở lên với nhiều đơn vị khác nhau thì đóng BHXH, BHTN theo HĐLĐ giao kết đầu tiên, đóng BHYT theo HĐLĐ có mức tiền lương cao nhất, đóng BHTNLĐ, BNN theo từng HĐLĐ.”

Qua quy định trên, có thể thấy rằng:

BHXH, BHTN: Chỉ phải tham gia 1 nơi là nơi ký HDLD đầu tiên

BHYT: Chỉ tham gia 1 nơi là nơi ký HDLD có mức tiền lương cao nhất

BHTNLĐ, BNN: Phải tham gia ở tất cả mọi nơi nếu ký HDLD từ đủ 01 tháng trở lên

Lưu ý: Đối với BH TNLĐ và BNN, việc đóng 2 loại bảo hiểm này thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động.

Nội dung bài viết:

    Hãy để lại thông tin để được tư vấn

    comment-blank-solid Bình luận

    084.696.7979 19003330 Báo giá Chat Zalo