
quyết định tái thẩm
1. Quy định chung về quyết định xem xét lại trong vụ án hình sự
Khi xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục tái thẩm thì quyết định tái thẩm có vị trí quyết định trong toàn bộ quá trình xét xử. Nếu kháng cáo mở lại dẫn đến một thủ tục tố tụng mới (thủ tục xem xét lại), quyết định xem xét lại sẽ chấm dứt thủ tục tố tụng.
Quyết định tái thẩm là văn bản pháp lý do Hội đồng tái thẩm ban hành theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự để xác định tính hợp pháp, không hợp pháp của bản án hoặc lệnh của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật để xét xử mới.
Về hình thức cũng như quyết định giám đốc thẩm, cho đến nay chưa có quy định nào đề cập đến loại văn bản này và thực tiễn ra phán quyết đối với bản án, quyết định bị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm cũng rất hạn chế. . , nên quyết định sửa đổi cũng giống như quyết định giám đốc thẩm, chỉ thay đổi tên gọi
2. Quy định của Ủy ban Đánh giá
2.1 Cơ sở xét xử vụ án hình sự
Phòng tái thẩm cũng giống như Phòng giám đốc thẩm, bao gồm: Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa Hình sự Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án quân sự trung ương, Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh, các ủy ban. của Thẩm phán Tòa án quân sự quân khu.
Về thành phần hội đồng tái thẩm Theo quy định tại Điều 403 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 thì “Việc tái thẩm khác phải tuân theo quy định về thủ tục giám đốc thẩm được quy định trong bộ luật này”. Theo đó, quy định về nội dung, hiệu lực của quyết định mở lại phiên tòa, thời hạn gửi, cơ quan, tổ chức, người được gửi (nhận) quyết định mở lại vụ án hình sự, thời hạn chuyển giao hồ sơ. xét xử lại vụ án sau khi Hội đồng tái thẩm hủy bản án, quyết định theo quy định tương ứng của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 về thủ tục giám đốc thẩm.
Thành phần của phòng xét xử giống như của phòng giám đốc thẩm. Nếu là Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao hoặc Toà án quân sự trung ương thì có 3 thẩm phán; nếu là Uỷ ban Tư pháp hoặc Hội đồng Thẩm phán thì phải có hai phần ba tổng số thành viên tham gia mới hợp pháp.
Điều 402 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 Sửa đổi các quy định liên quan đến quyền tái thẩm
- Không chấp nhận kháng nghị và thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị.
- Hủy bản án, quyết định tư pháp đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại hoặc xét xử mới.
- Hủy bản án, quyết định tư pháp đã có hiệu lực pháp luật và kết thúc vụ án.
- Đình chỉ phiên tòa mới.
Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự cũ quy định thẩm quyền của phòng tái thẩm như sau
Hội đồng xét duyệt có quyền quyết định:
- Không chấp nhận kháng nghị và cho thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật;
- Hủy bản án, quyết định không có thẩm quyền để điều tra lại hoặc xét xử mới;
- Hủy bản án, quyết định có tranh chấp và kết thúc vụ án.
2.2 Hội đồng xét xử trong vụ án dân sự
Phiên tòa mới là thủ tục xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị tranh chấp nên cũng giống như thủ tục phúc thẩm, thành viên giám đốc thẩm phải là thẩm phán giám định. Trong hội đồng mở lại, không có sự tham gia phổ biến của bồi thẩm viên. Thành phần hội đồng tái thẩm được quy định tại các Điều 66, 337 và 357 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 như sau:
- Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao xét xử tái thẩm bằng hội đồng ba thẩm phán đối với những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện có tranh chấp theo thủ tục tái thẩm. Đối với bản án, quyết định của tòa án nhân dân cấp tỉnh, tòa án nhân dân cấp huyện đã có hiệu lực pháp luật có tính chất phức tạp hoặc bản án, quyết định đã được uỷ ban thẩm phán tòa án nhân dân cấp cao xét xử tái thẩm bằng hội đồng xét xử gồm ba thẩm phán nhưng không đạt được sự thống nhất khi biểu quyết thông qua quyết định về việc giải quyết vụ án thì uỷ ban thẩm phán tòa án nhân dân cấp cao xét xử tái thẩm gồm toàn thể uỷ ban thẩm phán tòa án nhân dân cấp cao.
- Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử tái thẩm bằng hội đồng xét xử gồm năm thẩm phán đối với bản án, quyết định của tòa án nhân dân cấp cao bị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm. Đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án nhân dân cấp cao có tính chất phức tạp hoặc bản án, quyết định đã được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử tái thẩm bằng hội đồng xét xử gồm năm thẩm phán nhưng không đạt được sự thống nhất khi biểu quyết thông qua quyết định về việc giải quyết vụ án thì Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử tái thẩm gồm toàn thể Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
3. Thẩm quyền tái thẩm
Thẩm quyền tái thẩm được quy định tại điều 296 BLTTHS cũ như sau :
- Uỷ ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh tái thẩm những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện. ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự cấp quân khu tái thẩm bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự khu vực. - Toà Hình sự Toà án nhân dân tối cao tái thẩm bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân cấp tỉnh. Tòa án quân sự trung ương sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự cấp quân khu.
- Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự trung ương, Tòa hình sự, các Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao.
Thẩm quyền tái thẩm cũng tương tự như thẩm quyền giám đốc thẩm, có sự phân cấp rõ ràng, Tòa án cấp trên chỉ xét xử lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp dưới trực tiếp. Ví dụ, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh chỉ tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp huyện, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chỉ tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án nhân dân tối cao. Tòa án nhân dân tối cao mà không phải xét xử lại bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện. Thẩm quyền xét xử mới được phân cấp như sau:
- Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân tỉnh giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện;
- Hội đồng Thẩm phán Tòa án quân sự quân khu giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự khu vực.
- Toà Hình sự Toà án nhân dân tối cao tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân cấp tỉnh;
- Tòa án quân sự trung ương tái thẩm bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự quân khu;
- Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm lại các bản án của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Còn Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao theo Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 không còn nên chức năng, nhiệm vụ của Ủy ban này không còn.
4. Phán quyết mới của phiên tòa
Do tính chất của phiên tòa mới nên các quyết định xét xử mới không hoàn toàn giống với quyết định giám đốc thẩm. Nếu ở giám đốc thẩm, Hội đồng giám đốc thẩm có thể sửa bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo hướng nhẹ hơn hoặc huỷ bản án hoặc quyết định đã có hiệu pháp luật của Toà án cấp phúc thẩm và giữ nguyên bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp sơ thẩm, thì ở trình tự tái thẩm Hội đồng tái thẩm không có quyền ra các quyết định đó
Theo quy định của BLTTHS năm 2015 điều 402 thì Hội đồng tái thẩm có quyền ra các quyết định sau:
- Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị.
Mặc dù trước khi kháng nghị tái thẩm, Viện trưởng Viện kiểm sát đã cho xác minh những tính tiết mới được phát hiện thấy có căn cứ mới kháng nghị, nhưng không phải bao giờ việc xác minh cũng đem lại kết quả như ý muốn, có trường hợp đã xác minh rồi nhưng khi đem ra thảo luận tại Hội đồng tái thẩm thì thấy tình tiết mới đó không làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án, nên khổng thể chấp nhận kháng nghị tái thẩm; có trường hợp lúc nhận được phát hiện, tưởng đó là tình tiết mới, nhưng khi đem ra thảo luận tại phiên toà tái thẩm, kiểm tra kỹ hồ sơ vụ án thì thấy tình tiết mới được phát hiện đã có trong hồ sơ vụ án mà khi kháng nghị tái thẩm không phát hiện được; có trường hợp kháng nghị tái thẩm theo hướng không có lợi cho người bị kết án, nhưng thời hạn kháng nghị đã hết mà khi kháng nghị tái thẩm không phát hiện được; có trường hợp lẽ ra phải kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nhưng do đánh giá không chính xác thế nào là tình tiết mới nên lại kháng nghị theo thủ tục tái thẩm, v.v... Tóm lại, việc bác kháng nghị và giữ nguyên bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật là những trường hợp kháng nghị tái thẩm không có căn cứ.
- Hủy bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại hoặc xét xử lại.
Khi xét kháng nghị tái thẩm có căn cứ, Hội đồng tái thẩm có thể huỷ bản án hoặc quyết định bị kháng nghị để điều tra lại hoặc xét xử lại tuỳ thuộc vào tình tiết mới được phát hiện cần phải khắc phục sai lầm ở giai đoạn tố tụng nào, nếu cần phẳi điều tra lại thì huỷ để điều tra lại, nhưng nếu chỉ cần xét xử lại thì chỉ huỷ để xét xử lại.
- Hủy bản án, quyết định tư pháp đã có hiệu lực pháp luật và kết thúc vụ án.
Khi đó mới phát hiện ra những tình tiết làm thay đổi vụ án khi xác định được người bị kết án bị oan hoặc thuộc một trong các trường hợp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định.
- Đình chỉ phiên tòa mới.
Nội dung bài viết:
Bình luận