Quyền sử dụng đất ở Trung Quốc

quyen-su-dung-dat-o-trung-quoc

1. Quy định pháp luật về đất đai của Trung Quốc  

 Trung Quốc có tổng diện tích  9.682.796 km2, bao gồm hơn 100 triệu ha đất canh tác, chiếm 7% diện tích đất canh tác của thế giới. Trung Quốc bắt đầu  công nghiệp hóa từ năm 1978, cùng với  tăng trưởng kinh tế và cách mạng công nghiệp, quá trình đô thị hóa ở Trung Quốc cũng diễn ra rất mạnh mẽ. Vì vậy, vấn đề thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội và  giải quyết các khiếu kiện liên quan ở Trung Quốc  rất được quan tâm.  Trung Quốc tiến hành cải cách ruộng đất, chia ruộng đất cho nông dân từ năm 1949. Tuy nhiên, hình thức tư hữu ruộng đất  chỉ tồn tại trong thời gian ngắn. Sở hữu tập thể và sở hữu nhà nước đối với đất đai  được xác lập ở Trung Quốc từ những năm 1950. Năm 1978, Trung Quốc  khôi phục kinh tế tư nhân, công nhận hộ nông dân là một thành phần kinh tế, nhà nước  giao đất cho hộ nông dân  tổ chức sản xuất thay cho  nông trường tập thể. người mẫu. Điều 10 Hiến pháp và Luật quản lý đất đai năm 1982 của Trung Quốc  quy định: Đất đai ở Trung Quốc thuộc sở hữu nhà nước, bao gồm sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể. Đất đai đô thị, đất đai thuộc sở hữu toàn dân (tài sản nhà nước). Đất ở  nông thôn và đất nông nghiệp thuộc sở hữu  tập thể của nông dân. Hiến pháp  1988 (Khoản 2) quy định  Nhà nước giao đất cho tổ chức, cá nhân sử dụng dưới hình thức tặng cho quyền sử dụng đất. Quyền sử dụng đất  được phép chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp... tức là  cho phép người sử dụng đất được quyền định đoạt  đất đai, nhà nước chỉ kiểm soát việc quy định mục đích sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất (ghi là  40 - 70 năm). )1. Theo đó, nhà nước trao quyền sử dụng đất cho  tổ chức, cá nhân dưới các hình thức: giao đất (giao không thu tiền sử dụng đất); chuyển nhượng đất đai (giao đất có thu tiền sử dụng đất); Vị trí cho thuê. Người được Nhà nước giao đất có quyền sử dụng đất trong thời hạn sử dụng được xác định như sau: 1 năm đối với đất dự kiến ​​xây dựng công trình tạm; 40 năm đối với đất sử dụng vào mục đích thương mại, du lịch, vui chơi, giải trí; 50 năm đối với đất  xây dựng  công trình công nghiệp, trường học, bệnh viện, sân thể thao; 70 năm đối với đất  ở.  

quyền sử dụng đất ở trung quốc

quyền sử dụng đất ở trung quốc

 

2. Trường hợp thu hồi đất 

 Ở Trung Quốc, đất đai thuộc hệ thống tài sản công, vì vậy lợi ích công cộng là điều kiện tiên quyết để thực thi pháp luật quyền thu hồi đất. Theo quy định của Luật Quy hoạch sử dụng đất  2004, nhà nước có thể thu hồi đất của người sử dụng đất để phục vụ  mục đích công cộng, lợi ích quốc gia.  Việc thu hồi đất được thực hiện nghiêm ngặt để tránh  lạm quyền của chính quyền địa phương. Diện tích đất  thu hồi vì mục đích công cộng, lợi ích quốc gia bao gồm: đất  quân sự, quốc phòng;  cơ quan nhà nước và  cơ quan khám xét nghiệp vụ; công trình giao thông, năng lượng; Cơ sở hạ tầng công cộng; công trình công cộng và bảo trợ xã hội, công trình quan trọng  quốc gia, bảo vệ môi trường sinh thái và phục vụ  lợi ích công cộng khác theo quy định của pháp luật.  

3. Thẩm quyền thu hồi đất 

 Theo quy định, chỉ có Chính phủ và chính quyền các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương mới có thẩm quyền thu hồi đất2. Chính phủ có thẩm quyền thu hồi đất nông nghiệp từ 35 héc ta trở lên và từ 70 héc ta trở lên đối với các loại đất khác. Dưới hạn mức đất này, chính quyền cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ra quyết định thu hồi đất. Sau khi thu hồi, đất nông nghiệp  sẽ được chuyển từ  sở hữu tập thể sang đất  sở hữu nhà nước. 

 4. Quy trình thu hồi đất 

 Quá trình thu hồi đất ở Trung Quốc bao gồm bốn bước: 

 - Khảo sát  điều kiện thu hồi đất về dân số canh tác, thu nhập đất canh tác bình quân đầu người, tổng sản lượng hàng năm, diện tích đất, loại đất và quyền sở hữu của khu vực bị ảnh hưởng; 

 - Xây dựng dự thảo kế hoạch thu hồi đất. Phương án này là cơ sở để các cơ quan nhà nước phê duyệt việc thu hồi đất và thực hiện  bồi thường, tái định cư. Điều này bao gồm việc thu hồi đất thuộc sở hữu của hợp tác xã, mục đích của đất, vị trí chính xác của khu đất bị thu hồi, chủ sở hữu và khu vực. - Cơ quan quản lý đất đai báo cáo  chính quyền địa phương, trình kế hoạch thu hồi đất và các hồ sơ khác lên cấp trên kiểm tra, phê duyệt; 

 - Quảng cáo, rao bán dự án sau khi dự án được phê duyệt. Việc công bố phải được thực hiện kịp thời, với các chi tiết cụ thể về kế hoạch thu hồi và đền bù. Chính quyền địa phương có trách nhiệm thông báo, giải trình các vấn đề  liên quan. Sau ngày thông báo, các bất động sản nằm trong khu vực dự án sẽ không được cải tạo, mở rộng3. 

 5. Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi thu hồi đất 

 Nguyên tắc bồi thường khi thu hồi đất được xác định nhằm bảo đảm cho người bị thu hồi đất có nơi ở bằng hoặc lớn hơn  nơi ở cũ.  Các khoản thanh toán cho người sử dụng đất khai hoang bao gồm: 

 - Đền bù đất đai; 

 - Trợ cấp  tái định cư; 

 - Tiền  bồi thường thiệt hại về canh tác trên đất. Việc bồi thường khi thu hồi đất không theo giá thị trường mà phụ thuộc vào mục đích sử dụng ban đầu của  đất  thu hồi, cụ thể: đối với đất nông nghiệp thì cách tính  bồi thường  và  trợ cấp đất. Tiền hỗ trợ tái định cư được căn cứ vào giá trị tổng sản lượng đất sản xuất của các năm trước  nhân với  hệ số do Nhà nước quy định. Khoản đền bù được tính từ 6 đến 10 lần giá trị sản lượng trung bình hàng năm  của 3 năm trước khi thu hồi. Trợ cấp tái định cư được tính bằng 4 đến 6 lần giá trị sản xuất bình quân hàng năm. Việc đền bù hoa màu và vật kiến ​​trúc hiện có sẽ do chính quyền địa phương quyết định. Nếu mức bồi thường không đủ duy trì mức sống ban đầu thì có thể tăng thêm, tuy nhiên tổng số tiền bồi thường không được vượt quá 30 lần giá trị sản xuất bình quân của 3 năm trước khi thu hồi đất nếu theo quy định. không đủ để duy trì mức sống  hiện tại của  nông dân. Ví dụ: Trong quy định của Bắc Kinh, bồi thường cho mùa màng được tính bằng 6 đến 10 lần sản lượng trung bình của 3 năm trước đó cộng lại;  trợ cấp tái định cư được xác định bằng 4 đến 6 lần sản lượng bình quân của 3 năm trước đó. Tuy nhiên, tổng của hai khoản  này không được vượt quá 30 lần sản lượng bình quân của 3 năm trước đó của thửa đất này. Đối với đất ở, mức bồi thường được xác định bao gồm: Chi phí xây dựng lại nhà ở, phần chênh lệch giữa xây dựng lại nhà ở mới và nhà ở cũ; giá đất  chuẩn và trợ  giá. Chi phí xây dựng nhà ở mới được xác định là phần chênh lệch giữa giá trị còn lại của nhà ở cũ và chi phí xây dựng lại nhà ở mới. Giá đất  chuẩn do nhà nước quyết định, dựa trên giá đất  cùng khu vực.  Việc trợ  giá cũng được quyết định bởi chính phủ. Khoản  bồi thường này được tính bằng mét vuông, cộng lại và nhân với diện tích xây dựng nơi ở. Trường hợp Nhà nước có nhà ở tái định cư thì người được bồi thường  được bố trí nhà ở có diện tích tương đương với số tiền  được bồi thường4. Hơn nữa, khi  thu hồi đất nông nghiệp, người nông dân có thể bị mất đất canh tác và phải chuyển đổi nghề nghiệp. Vì vậy, ngoài các khoản bù trên, Trung Quốc còn thực hiện các chính sách bảo hiểm xã hội  sau: 

 - Đối với người cao tuổi thực hiện chế độ tuổi già: theo quy định,  nữ  45 tuổi, nam  50 tuổi trở lên được chi trả  90.000 - 110.000 NDT/lần tại cơ quan hành chính và tại cơ quan BHXH. Bảo hiểm xã hội có trách nhiệm chi trả lương hưu hàng năm của những người này; 

 - Đối với những người  trong độ tuổi lao động, hãy trả cho họ số tiền khoảng 100.000 đến 120.000 nhân dân tệ để những đối tượng này tự  tìm việc làm mới.  Như vậy, các quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp ở Trung Quốc gây bức xúc cho người dân. Chính quyền khi thu hồi đất phải quan tâm đến  quyền  lợi  của người sử dụng đất và có chế độ đền bù hợp lý, gắn công tác đền bù với  giải quyết các vấn đề xã hội. 

6. Giải quyết khiếu nại  thu hồi đất 

 Theo thống kê, kể từ năm 2010, trung bình mỗi năm  có 100.000  khiếu nại hành chính ở Trung Quốc. Số vụ khiếu kiện hành chính thụ lý trên thực tế bằng  số  vụ  kiện  Tòa án thụ lý. Tại một số địa phương như Thượng Hải, Hắc Long Giang, số  vụ  khiếu kiện hành chính cao gấp đôi số vụ án hành chính sơ thẩm. Về nội dung khiếu nại, tỷ lệ việc cụ thể trong các lĩnh vực định giá đất; xử phạt vi phạm hành chính về an ninh, trật tự xã hội; giao thông;… tương đối cao.  Để nâng cao chất lượng và hiệu quả giải quyết khiếu nại hành chính, năm 1999, Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc đã thông qua Pháp lệnh Khiếu nại Hành chính, thay thế Điều lệ về Khiếu nại Hành chính do Quốc vụ viện Trung Quốc ban hành năm 1990. Theo quy định của pháp luật , tranh chấp về quyền  sở hữu đất, quyền sử dụng đất  được giải quyết thông qua thương lượng giữa các bên. Tranh chấp giữa các đơn vị sẽ do chính quyền địa phương  cấp quận giải quyết, tranh chấp giữa các cá nhân với nhau hoặc giữa cá nhân với đơn vị sẽ do cấp thành phố, quận trở lên giải quyết. Nếu các bên liên quan không chấp nhận quyết định của chính quyền địa phương, tranh chấp sẽ được đưa ra trước tòa án trong vòng 30 ngày kể từ ngày các bên nhận được thông báo về quyết định. Tuy nhiên, hiện nay, nhiều người dân không lựa chọn tòa án để giải quyết khiếu nại về thu hồi đất do mức phí cao và nhiều hạn chế khác.  

 

 Đặc biệt, từ năm 2008, Ban Pháp chế  Quốc vụ viện đã có “Thông báo  thí điểm thành lập Ủy ban giải quyết khiếu nại hành chính ở một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương”. Ban đầu, các ủy ban này được thành lập như các dự án thí điểm ở Bắc Kinh, Hắc Long  Giang và Giang Tô, sau đó dần dần mở rộng ra toàn quốc. Đến đầu năm 2014, hơn 190 thành phố và quận ở 24 tỉnh và thành phố ở Trung Quốc đã thành lập ủy ban khiếu nại hành chính. Thực tiễn cho thấy, sau khi thành lập Ban này, chất lượng giải quyết khiếu nại hành chính nói chung và khiếu nại về thu hồi đất nói riêng đã được cải thiện rõ rệt. Đây là một trong những kinh nghiệm mà Việt Nam có thể học hỏi để nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu kiện thu hồi đất hiện nay.

 

Nội dung bài viết:

    Hãy để lại thông tin để được tư vấn

    comment-blank-solid Bình luận

    084.696.7979 19003330 Báo giá Chat Zalo