1. Quyền về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm được pháp luật bảo hộ như thế nào?
Mỗi công dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đều mang trong mình những đặc quyền riêng: như quyền tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, quyền sống, quyền tự do ngôn luận,... và trong đó, quan trọng nhất là quyền được sống, được bảo vệ sức khỏe, được tôn vinh và được bảo vệ nhân phẩm. Công dân có các quyền nhân thân bất khả xâm phạm. Không ai được xâm phạm thân thể người khác. Người bị bắt phải đáp ứng các yêu cầu của pháp luật. Công dân có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm. Nói cách khác, mọi người phải tôn trọng tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của người khác (Hiến pháp 2013). Vì vậy, mọi hành vi làm ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người khác sẽ bị pháp luật nghiêm trị. Ví dụ: Anh Nguyễn Văn A nhiều lần đánh vợ. Mỗi khi có chuyện buồn, anh A lại quất roi vào người vợ. Tuy nhiên, sau khi bị đánh quá nhiều lần và không thể chịu đựng được nữa, vợ anh A đã kiện anh A ra cơ quan quản lý bạo hành gia đình của nhà nước. Xét thấy hành vi của anh A là bạo lực và cố ý gây thương tích nên anh A bị xử phạt hành chính. Nhưng anh A vẫn không biết ăn năn hối cải mà tiếp tục đánh vợ đến chết. Anh A bị pháp luật xử phạt với hình phạt tử hình.
quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng
2. Các quy định của pháp luật liên quan đến quyền được bảo đảm tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm
Hiện nay, trong các văn bản quy phạm pháp luật đang có hiệu lực đều có quy định về quyền được pháp luật bảo vệ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm thông qua một số điều luật cụ thể như:
- Ai cũng có quyền sống. Tính mạng con người được pháp luật bảo vệ. Không ai có thể bị tước đoạt tính mạng trái pháp luật (Điều 19 Hiến pháp 2013).
- Mọi người có quyền được toàn vẹn về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, bức cung, nhục hình hoặc bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm” (Khoản 1 Điều 20 Hiến pháp 2013). Không ai có quyền xâm hại sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người khác dưới bất kỳ hình thức nào. - Mọi người có quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể (khoản 1 Điều 32 Bộ luật dân sự 2015). Tính mạng con người là vô cùng quý giá, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, ở đâu, mọi người đều có quyền được bảo vệ tối đa, không ai có quyền xâm hại, xâm hại đến tính mạng, sức khỏe của người khác.
- Bộ luật Hình sự năm 2015 dành Chương XIV (từ Điều 123 đến Điều 156) quy định các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người. Ta thấy đây là tội phạm có mức độ nghiêm trọng khá lớn, mọi hành vi xâm hại đến sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm của người khác đều bị pháp luật nghiêm trị. Khi cá nhân có dấu hiệu tội phạm, khi xét thấy cá nhân có yếu tố cấu thành tội phạm thì cơ quan có thẩm quyền có thể bắt người đó trong trường hợp khẩn cấp.
3. Chế tài xử phạt hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người khác
Quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm là quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi người. Bởi vậy tất cả mọi người đều phải tôn trọng tính mạng, thân thể, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm của người khác và chính bản thân mình. Bản thân mỗi người, mỗi cá nhân, mỗi công dân phải biết tự bảo vệ quyền của mình, tố cáo những việc làm sai trái với quy định của pháp luật. Ngoài ra khi có hành vi xâm hại đến tính mạng, thân thể sức khỏe, danh dự và nhân phẩm sẽ phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm của bản thân mình trước pháp luật. Cụ thể chế tài xử phạt đối với một số hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người khác:
- Chế tài xử phạt về hành vi xâm phạm tính mạng của người khác được quy vào một số tội như: tội giết người (Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015); tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ (Điều 124 Bộ luật hình sự năm 2015); tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 125 Bộ luật hình sự năm 2015); tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội (Điều 126 Bộ luật hình sự năm 2015); tội làm chết người trong khi thi hành công vụ (Điều 127 Bộ luật hình sự năm 2015); tội vô ý làm chết người (Điều 128 Bộ luật hình sự năm 2015); tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 129 Bộ luật hình sự năm 2015); tội bức tử (Điều 130 Bộ luật hình sự năm 2015); tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát (Điều 131 Bộ luật hình sự năm 2015); tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng (Điều 132 Bộ luật hình sự năm 2015), ... và hình phạt cao nhất có thể là tù chung thân hoặc tử hình
. - Chế tài xử phạt về hành vi xâm phạm sức khỏe của người khác được quy vào một số tội như: tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn thại sức khỏe của người khác (Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015); tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 135 Bộ luật hình sự năm 2015); tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội (Điều 136 Bộ luật hình sự năm 2015); tội gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ (Điều 137 Bộ luật hình sự năm 2015); tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 138 Bộ luật hình sự năm 2015); tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 139 Bộ luật hình sự năm 2015); tội hạnh hạ người khác (Điều 140 Bộ luật hình sự năm 2015), ... và mức xử phạt vi phạm hành chính cao nhất có thể lên đến 100.000.000 đồng hoặc chịu chế tài hình sự với mức hình phạt cao nhất có thể là tù chung thân
- Chế tài xử phạt về hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm của người khác có thể được quy vào một số tội như: tội làm nhục người khác (Điều 155 Bộ luật hình sự năm 2015); tội vu khống (Điều 156 Bộ luật hình sự năm 2015) với chế tài hành chính lên đến 50.000.000 đồng hoặc chịu chế tài hình sự với mức hình phạt lên đến 07 năm tù giam
Nội dung bài viết:
Bình luận