Quy định về chỉ định người bào chữa

1. Trường hợp chỉ định người bào chữa 

 Để thể chế hóa chính sách nhân đạo của Đảng, nhà nước và phù hợp với điều kiện cụ thể của nước ta, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 dự kiến ​​mở rộng trường hợp bắt buộc phải mời luật sư bào chữa cho bị can, bị cáo về các tội có khung hình phạt  cao nhất là 20 năm tù, chung thân hoặc tử hình thay cho mức cao nhất  như hiện nay là tử hình, đồng thời quy định rõ hơn việc người bào chữa chỉ nêu “nhược điểm về thể chất” thay vì “điểm yếu về thể chất” như  Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định.: các trường hợp sau đây mà bị can, người đại diện hoặc người thân thích của họ không mời người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa cho họ: (i) Bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định mức hình phạt cao nhất  là 20 năm tù; tù chung thân; (ii) Bị cáo có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa được; thiểu năng trí tuệ hoặc trẻ vị thành niên. 

 Đối với quy định này, cũng có ý kiến ​​cho rằng cần mở rộng trường hợp bắt buộc mời luật sư bào chữa cho bị can, bị cáo đối với các tội có mức hình phạt cao nhất là 15 năm tù. Với lựa chọn này, chúng tôi dự kiến ​​sẽ nhân lên 8 lần số lượng luật sư bào chữa bắt buộc. Hoặc cần mở rộng vụ án để buộc phải bào chữa cho bị can, bị cáo về tội có mức án  từ 12 năm tù trở lên. Tuy nhiên, các phương án này không phù hợp với điều kiện ở nước ta hiện nay. 

 

 

 

  2. Tổ chức cử luật sư bào chữa 

 Căn cứ khoản 1 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, cơ quan có thẩm quyền tiến hành công tố  yêu cầu hoặc chỉ thị tổ chức sau đây chỉ định người bào chữa trong các trường hợp cụ thể: 

 

 - Đoàn luật sư hướng dẫn tổ chức  nghề nghiệp luật sư cử người bào chữa; 

 

 - Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước cử trợ giúp viên pháp lý, luật sư bào chữa cho người thuộc diện được trợ giúp pháp lý; 

 

 - Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận cử luật sư nhân dân bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức mình.  

 

 

 3. Thực hiện thủ tục chỉ định người bào chữa 

 Đối với người thuộc trường hợp chỉ định người bào chữa theo quy định tại Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 hoặc người đại diện hoặc người thân thích của người thuộc trường hợp chỉ định người bào chữa có đơn yêu cầu người bào chữa thì Cơ quan điều tra, Nhà tạm giữ, Trại tạm giam thực hiện các quy định tại Điều 3, Điều 4 Thông tư 46/2019/TT-BCA. Nếu người thuộc trường hợp chỉ định người bào chữa, người đại diện hoặc người thân thích của người thuộc trường hợp chỉ định người bào chữa không có đơn yêu cầu người bào chữa thì thực hiện như sau: 

 

 - Trong thời hạn 03 ngày kể từ khi nhận được thông báo của cơ quan có thẩm quyền mà người đại diện hoặc người thân thích của những người thuộc trường hợp chỉ định người bào chữa quy định tại khoản 1 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không có đơn yêu cầu nhờ người bào chữa thì cơ quan đang thụ lý vụ án có trách nhiệm thực hiện các thủ tục chỉ định người bào chữa được quy định tại khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. 

 

  - Khi nhận được văn bản cử người được quy định tại điểm a, điểm b khoản 3 Điều 78 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, trong thời hạn không quá 24 giờ, Điều tra viên hoặc Cán bộ điều tra có trách nhiệm gặp bị can thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, người đại diện hoặc người thân thích của những người quy định tại điểm b khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để họ có ý kiến về việc chỉ định người bào chữa; việc gặp phải được lập biên bản và ghi rõ ý kiến của bị can, người đại diện hoặc người thân thích về việc có đồng ý hoặc thay đổi hoặc từ chối người bào chữa. Trường hợp đồng ý chỉ định người bào chữa thì cơ quan đang thụ lý vụ án làm căn cứ để tiến hành thủ tục đăng ký bào chữa. 

  - Trường hợp thay đổi người bào chữa, nếu bị can, người đại diện hoặc người thân thích nêu đích danh người bào chữa thì cơ quan đang thụ lý vụ án có trách nhiệm yêu cầu hoặc đề nghị cơ quan của người bào chữa đó để phân công; nếu không nêu đích danh người bào chữa thì cơ quan đang thụ lý vụ án có trách nhiệm gửi đến một trong các cơ quan quy định tại điểm a, điểm b khoản 3 Điều 78 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để cử lại người.  - Trường hợp không cấp, cơ quan tiếp nhận hồ sơ thông báo cho cơ quan đã chỉ định hoặc người được  chỉ định. Điều tra viên, Cán bộ điều tra có trách nhiệm thống nhất với người được  chỉ định về thời gian gặp bị can trong trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Người thân thích của những người quy định tại điểm b khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự  2015 để xác nhận việc từ chối. 

 

 th?id=OIP

 

  4. Đối với  người được cử bào chữa 

 Tại điểm b khoản 1 điều 76 bộ luật tố tụng hình sự 2015 có nêu đối tượng bắt buộc phải bào chữa  là  bị can, bị can có khuyết điểm về thể chất  không thể tự bào chữa được, quy định của bộ luật tố tụng hình sự là như vậy nhưng trên thực tế áp dụng rất khó khăn do có nhiều cách hiểu khác nhau đối với trường hợp trên và hiện nay chưa có văn bản dưới luật hướng dẫn áp dụng. 

  Đối với bị cáo là người khuyết tật tâm thần, khó khăn nhất là  những khuyết tật này không phải bẩm sinh mà phát sinh trong quá trình điều tra, xét xử vụ án. Khi công tố viên có nghi ngờ về tình trạng tâm thần của  bị can thì  phải trưng cầu giám định. Vì vậy,  luật nên quy định thời điểm ra quyết định trưng cầu giám định tâm thần là khi các cơ quan này được yêu cầu phải bảo đảm cho bị can bào chữa cho  bị cáo chứ không phải đợi kết luận giám định. Bởi nếu giám định kết luận  bị cáo có vấn đề về tâm thần thì  quyền bào chữa của bị cáo sẽ được bảo đảm ngay từ đầu. Đối với kết luận giám định không có khiếm khuyết về tâm thần thì việc luật sư bào chữa tham gia  vụ án sau đó sẽ được giải quyết như những vụ án bình thường khác, tức là trên cơ sở thỏa thuận giữa  bị can, bị cáo và luật sư. . 

 

 

 5. Một số bất cập, hạn chế 

 Một số hạn chế trong quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015: 

 

 

 - Chưa quy định người bào chữa bắt buộc được gặp bị cáo sau phiên tòa sơ thẩm: 

 

 Mặc dù tại khoản 6 Điều 78 BLTTHS năm 2015 quy định:“Văn bản thông báo người bào chữa có giá trị sử dụng trong suốt quá trình tham gia tố tụng, trừ các trường hợp: Người bị buộc tội từ chối hoặc đề nghị thay đổi người bào chữa; Người đại diện hoặc người thân thích của người bị buộc tội quy định tại điểm b khoản 1 Điều 76 của Bộ luật này từ chối hoặc đề nghị thay đổi người bào chữa” và tại điểm o khoản 1 Điều 73 BLTTHS năm 2015, quy định người bào chữa có quyền:“Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất theo quy định của Bộ luật này”. Với quy định như trên nhưng thiếu văn bản hướng dẫn thì việc người bào chữa gặp bị cáo sau phiên tòa sơ thẩm để thống nhất, trao đổi thực hiện một số công việc như kháng cáo, các hoạt động khác nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của người bị buộc tội sẽ khó khăn và không được gặp như thực tế đã diễn ra trong thời gian qua. 

  - Chưa có cơ chế phối hợp giữa cơ quan tiến hành tố tụng với Đoàn luật sư các tỉnh thành về hình thành cơ chế “Luật sư, Trợ giúp pháp lý trực ban”: 

 

 Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, người đại diện hoặc người bào chữa cho người bị buộc tội có quyền và nghĩa vụ tham gia, chứng kiến khi cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, lấy lời khai của người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần. Trường hợp người bị buộc tội không có người đại diện hoặc khi mà cơ quan tiến hành tố tụng chưa liên hệ, không tìm được người đại diện của người bị buộc tội, chưa tìm được luật sư bảo vệ, bào chữa, thì các cơ quan tiến hành tố tụng có thể mời luật sư trực ban tham gia ngay các hoạt động tố tụng này để đảm bảo quy định của pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội. 

 

  - Chưa có chế tài xử lý những người tiến hành tố tụng cản trở quyền bào chữa của người bị buộc tội, quyền hành nghề luật sư: 

 

 Hiện nay BLTTHS và các văn bản hướng dẫn chưa có chế định nào xử lý những hành vi cản trở hoạt động hành nghề của người bào chữa. Thực tế chưa có trường hợp nào người tiến hành tố tụng bị xử lý nghiêm túc, công khai về hành vi này mà nhiều nhất chỉ là nhắc nhở, rút ​​kinh nghiệm nội bộ. Vì vậy, cần  có chế tài xử lý nghiêm minh những vi phạm của những người làm công tác tố tụng. 

  - Mối quan hệ giữa người bào chữa với các cơ quan  tố tụng chưa được thể chế hóa cao, vừa mang tính chất  hợp tác, vừa mang tính chất cưỡng chế: 

 

 Cơ quan  tố tụng và người bào chữa đều có nghĩa vụ bảo vệ pháp luật, nghiêm chỉnh tuân thủ các quy định của pháp luật, tôn trọng lẫn nhau, tạo mọi điều kiện thuận lợi trong khuôn khổ  pháp luật cho phép để tìm ra sự thật của vụ án. Sự thỏa thuận giữa luật sư bào chữa và cơ quan tiến hành tố tụng chứng tỏ sự kiểm soát lẫn nhau trong việc thực hiện chức năng của mình để pháp luật được áp dụng đúng đắn. Một sai sót hoặc lạm quyền của một bên  có thể trở thành lý lẽ hoặc chỉ trích của bên kia. Việc kiềm chế  này cũng góp phần hạn chế đến mức thấp nhất hành vi vi phạm pháp luật của những người nói trên trong quá trình giải quyết vụ án nhằm mục đích cuối cùng là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Vị trí của luật sư bào chữa với những quyền  và nghĩa vụ như hiện nay, luật sư bào chữa khó trở thành khách thể, bình đẳng với cơ quan tiến hành tố tụng có đầy đủ quyền năng nên cần đổi mới, tăng  quyền hạn để luật sư bào chữa có đủ tư cách hạn chế vi phạm pháp luật.

 

Nội dung bài viết:

    Hãy để lại thông tin để được tư vấn

    comment-blank-solid Bình luận

    084.696.7979 19003330 Báo giá Chat Zalo