Quy định về cấp mã số định danh cá nhân
* Thứ nhất, căn cứ Điều 19 Luật Căn cước công dân năm 2014 và Điều 13, Nghị định số 137/2015/NĐ-CP ngày 31/12/2015 của Chính phủ quy định chỉ tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Căn cước công dân, số định danh cá nhân là dãy số tự nhiên gồm 12 số, có cấu trúc gồm 6 số là mã thế kỷ sinh, mã giới tính, mã năm sinh của công dân, mã tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc mã quốc gia nơi công dân đăng ký khai sinh và 6 số là khoảng số ngẫu nhiên, sổ thẻ Căn cước công dân là số định danh cá nhân.
* Thứ hai, căn cứ Luật Căn cước Công dân năm 2014, số định danh cả nhân gắn với các thông tin cơ bản của một cá nhân. Các thông tin này được Bộ Công an thống nhất quản lý và cập nhật trong cơ sở dữ liệu quốc gia. Số định danh được sử dụng để tra cứu thông tin trong cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và thay thế các giấy tờ khi tham gia thực hiện thủ tục hành chính khi cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư kết nối với các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành.
* Thứ ba, thủ tục cấp số định danh cá nhân như sau: - Đối với công dân đăng ký khai sinh, thủ tục cấp số định danh cá nhân được quy định tại Điều 14, Nghị định số 137/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Căn cước công dân (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 37/2021/NĐ-CP ngày 29/3/2021), gồm 02 trường hợp:
Trường hợp Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử đã được kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư thi khi nhận đủ giấy tờ để đăng ký khai sinh, cơ quan quân lý, đăng ký hộ tịch, quản lý cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử có trách nhiệm chuyển ngay các thông tin của người được đăng ký khai sinh cho Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để cấp số định danh cá nhân. Trong trường hợp Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư chưa được khai thác hoặc Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử chưa được kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư thì khi nhận được đơn đăng ký khai sinh của công dân, cơ quan quản lý, đăng ký hộ tịch phải chuyển ngay thông tin về công dân cho cơ quan quản lý nhà nước. cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu nhân khẩu qua mạng Internet có tài khoản truy cập.
- Đối với công dân đã đăng ký khai sinh, thủ tục cấp số định danh cá nhân được quy định tại Điều 15 Nghị định số 137/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp áp dụng luật cơ bản. được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 37/2021/NĐ-CP ngày 29/3/2021), cụ thể: Công dân đã đăng ký khai sinh nhưng chưa có số định danh cá nhân thì tổ chức quản lý Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư xác lập cá nhân cấp số định danh cho công dân trên cơ sở thông tin hiện có trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Nội dung bài viết:
Bình luận