TS NGUYỄN HẢI AN (Vụ Giám đốc, Kiểm tra II, TANDTC) - ThS. LÊ THỊ THU THI (Học viện Tòa án) - Mang thai hộ là một trong những quy định mới được ghi nhận trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và là bước đột phá trong công tác xây dựng pháp luật, mở ra hy vọng mới cho nhiều cặp vợ chồng hiếm muộn không thể có con. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện quy định này còn nhiều vướng mắc cần phải sửa đổi, bổ sung cho hoàn thiện.

1. Sự cần thiết ban hành quy định về mang thai hộ trong pháp luật Việt Nam
Mang thai hộ là một trong những quy định mới được ghi nhận trong Luật Hôn nhân và Gia đình (BLGĐ) năm 2014 và là bước đột phá trong công tác xây dựng pháp luật, mang lại hy vọng mới cho nhiều cặp vợ chồng hiếm muộn, không thể sinh con. Trong thực tế cuộc sống, các trường hợp vô sinh, hiếm muộn ngày càng xảy ra và có nguy cơ gia tăng ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Theo thống kê mới nhất của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Việt Nam là một trong những quốc gia thuộc khu vực Châu Á - Thái Bình Dương có mức sinh thấp nhất nhưng lại có tỷ lệ vô sinh cao nhất.
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) dự báo vô sinh, hiếm muộn là vấn đề nguy hiểm thứ 3, sau ung thư và tim mạch trong thế kỷ 21, và căn bệnh này đang dần trở nên phổ biến hơn ở các quốc gia khác từ châu Á trong đó có Việt Nam[1]. Vô sinh được định nghĩa là tình trạng vợ chồng sau một năm kết hôn, quan hệ tình dục trung bình 2-3 lần/tuần, không sử dụng bất kỳ biện pháp tránh thai nào mà người vợ vẫn không có thai. Vô sinh có thể hiểu là tình trạng mất hoặc không có khả năng sinh sản xảy ra ở khoảng 10-15% các cặp vợ chồng mong muốn có con[2]. Theo quy định của pháp luật Việt Nam: “Vô sinh là tình trạng sau một năm chung sống, vợ chồng có quan hệ tình dục trung bình từ 2 đến 3 lần/tuần, không sử dụng biện pháp tránh thai nào mà người vợ không có thai”. [3] . Vô sinh có thể do vợ hoặc chồng, hoặc cả hai. Theo một nghiên cứu do Đại học Y Hà Nội phối hợp với Bệnh viện Phụ sản Trung ương thực hiện trên 8 tỉnh, thành trên 14.300 cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ cho thấy: Tỷ lệ vô sinh ở Việt Nam đang gia tăng, lên tới 7,7%. Trong đó vô sinh nguyên phát là 3,9% và vô sinh thứ phát là 3,8%. Đặc biệt, 50% trong số đó là các cặp vợ chồng dưới 30 tuổi. Cũng trong nghiên cứu này, tỷ lệ vô sinh nam ngày càng tăng [4]. Ngay tại Trung tâm Hỗ trợ sinh sản (Bệnh viện Phụ sản Trung ương), nếu như cách đây khoảng 10 năm thì tại đây, mỗi tuần anh tiếp nhận 2 đến 3 cặp vợ chồng đến điều trị hiếm muộn hoặc 'hiếm muộn'. Đến nay, con số này đã tăng từ 40 lên 60 cặp (gấp 20 lần)[5] Vô sinh, hiếm muộn dẫn đến nhiều hậu quả nặng nề cho gia đình và xã hội. Ngoài gánh nặng chi phí tiếp tục điều trị còn gây rạn nứt tình cảm vợ chồng, gánh nặng tâm lý cho các thành viên trong gia đình và là một trong những nguyên nhân dẫn đến đổ vỡ hôn nhân.
Theo quy định của Luật Hôn nhân Quốc gia trước đây, nhà nước “cấm mang thai hộ”[6] dưới mọi hình thức, nhưng trong Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 đã sửa đổi với quy định “Cấm mang thai hộ vì mục đích thương mại”. . Như vậy, sau 10 năm luật hôn nhân quốc gia ra đời, đã có một cách nhìn mới về vấn đề mang thai hộ. Bên cạnh việc luật đưa ra hai khái niệm mang thai hộ nhân đạo và mang thai hộ vì mục đích thương mại, Luật Hôn nhân trong nước 2014 và các văn bản chính sách đã có những quy định cụ thể về vấn đề mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Có thể nói, quy định này có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ đối với các cặp vợ chồng vô sinh, hiếm muộn mà còn đối với Nhà nước trong quản lý xã hội.
Một mặt, quy định về mang thai hộ sẽ tạo hành lang pháp lý an toàn trong giao dịch mang thai hộ và có cơ chế phân biệt với trường hợp mang thai hộ vì mục đích thương mại hiện nay. Cơ quan chức năng có thể kiểm soát được phần nào nhu cầu mang thai hộ hiện nay. Các quy định của pháp luật về mang thai hộ giúp bảo vệ tốt hơn quyền của người mẹ và trẻ em. Mặt khác, việc pháp luật cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đã tạo điều kiện cho các cặp vợ chồng vô sinh, hiếm muộn có khả năng được làm cha mẹ, giảm bớt gánh nặng tâm lý gia đình, hạn chế đổ vỡ hôn nhân. Có thể nói, đó là quy định nhân văn, góp phần ổn định xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Trong chuyên đề này sẽ đề cập đến một số vấn đề về mang thai hộ theo quy định của pháp luật hiện hành.
2. Quy định của pháp luật mang thai hộ Việt Nam
2.1. Mục đích mang thai hộ theo pháp luật Việt Nam hiện hành
Luật Hôn nhân đã đưa ra hai khái niệm liên quan đến mục đích mang thai hộ, đó là:
– Mang thai hộ vì mục đích nhân ái là việc sử dụng người phụ nữ một cách tự nguyện, phi thương mại để giúp một cặp vợ chồng mang thai hộ mà người phụ nữ không thể thụ thai và sinh con ngay cả khi áp dụng công nghệ hỗ trợ sinh sản, lấy trứng của người phụ nữ và tinh trùng của người phụ nữ. chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con[7].
– Mang thai hộ vì mục đích thương mại là việc người phụ nữ mang thai hộ cho người khác bằng cách áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích kinh tế hoặc mục đích khác[8].
- Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là sinh con bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm[9].
Các kỹ thuật viên thực hiện việc thụ tinh trong ống nghiệm – Ảnh TL
Theo quy định pháp luật ranh giới để phân biệt được trường hợp mang thai vì mục đích nhân đạo với trường hợp mang thai vì mục đích thương mại là việc các bên có hoặc không có các thỏa thuận liên quan đến việc bên mang thai hộ sẽ được hưởng lợi ích kinh tế hoặc lợi ích khác. Nói một cách khác thì việc mang thai hộ không có yếu tố vật chất thì có thể goi là “mang thai hộ không vì mục đích thương mại”[10].Tuy nhiên, theo quan điểm tác giả để xác định chính xác vấn đề này không phải là vấn đề đơn giản bởi pháp luật khó có thể kiểm soát được các vấn đề phát sinh trên thực tiễn. Chẳng hạn phải hiểu thế nào là “hưởng lợi ích kinh tế hoặc lợi ích khác” cho chính xác, liệu lợi ích kinh tế có bao gồm một số trường hợp như bên nhờ mang thai hộ cung cấp một số tiền để bên mang thai hộ trang trải chi phí an dưỡng thai, hoặc một số tiền để sau khi người mang thai hộ sinh con thành công để phục hồi sức khỏe. Có thể trong một số trường hợp số tiền này là rất lớn và không đơn thuần là để bồi dưỡng sức khỏe mà là tiền thù lao cho việc mang thai hộ. Bởi vậy, để phân biệt chính xác hơn mục đích của việc mang thai hộ thì cần thiết phải có những quy định cụ thể liên quan đến việc đưa ra các tiêu chí chi tiết đến việc mang thai hộ vì mục đích thương mại, từ đó có các cơ chế rõ ràng nhằm hạn chế được việc biến tướng của việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo trên thực tế.
2.2. Điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
2.2.1. Điều kiện mang thai hộ đối với bên yêu cầu mang thai hộ
Kiểm tra pháp luật của một số quốc gia cho phép mang thai hộ với điều kiện cả hai bên đều là mẹ đẻ và người nhờ mang thai hộ. Theo luật mang thai hộ của Úc, người mẹ xin mang thai hộ phải là người: không có khả năng thụ thai; hoặc nếu có thể mang thai, có thể không thể mang thai hoặc sinh con; hoặc không thể sống sót sau khi sinh; hoặc có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe nếu bạn sinh con; hoặc có thể sinh con tàn tật do khiếm khuyết di truyền của người mẹ; hoặc em bé khó có thể sống sót trong quá trình thụ thai hoặc có thể gặp các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng từ khi sinh ra. Mang thai hộ cho một cặp đồng tính nam hoặc đồng tính nữ cũng có thể được xem xét. Ngoài ra, người hoặc cặp vợ chồng mang thai hộ và yêu cầu mang thai hộ phải từ 25 tuổi trở lên; Người mang thai hộ phải được tư vấn, khám và xác minh về sức khỏe, tâm lý, pháp lý trước khi tiến hành mang thai hộ.[11]
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 95 Luật hôn nhân gia đình 2014: “Vợ, chồng có quyền nhờ người mang thai hộ khi có đủ các điều kiện sau đây: (a) Có xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền về việc mang thai hộ. người phụ nữ không được mang thai và sinh con kể cả bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản; b) Vợ chồng không có con chung; (c) Đã được tư vấn về y tế, pháp lý và tâm lý”. Trước hết, với điều kiện “có xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền về việc người phụ nữ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản” để xác định mang thai hộ là giải pháp cuối cùng cho các cặp vợ chồng vô sinh hiếm muộn được làm cha mẹ. . Đây là điều kiện đầu tiên mà các cặp vợ chồng phải đáp ứng khi muốn nhờ người khác mang thai hộ. Tuy nhiên, quy định này của luật đã làm nảy sinh nhiều cách hiểu khác nhau.
Cách hiểu thứ nhất là người phụ nữ sau khi đã áp dụng mọi biện pháp sinh con, kể cả phương pháp áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản mà không thể có con và được cơ quan y tế có thẩm quyền xác nhận là không thể mang thai. Cách giải thích thứ hai là người phụ nữ có vấn đề về sức khỏe sinh sản khiến cô ấy không thể mang thai. Tức là người vợ chỉ cần làm những xét nghiệm, kiểm tra y khoa và được cơ sở y tế có thẩm quyền kết luận không thể có khả năng mang thai mặc dù có thể chưa từng trải qua các phương pháp kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Hiện nay, các quy định pháp luật chưa đưa ra hướng dẫn liên quan đến việc hiểu chính xác điều kiện này của mang thai hộ.
Nếu hiểu theo cách hiểu thứ nhất thì sẽ dẫn đến việc loại trừ những trường hợp nhiều người vợ vì lý do bệnh lý mà bác sĩ khuyên cáo không thể sinh con bằng phương pháp kỹ thuật ra khỏi danh sách những người đủ điều kiện nhờ mang thai hộ. Còn theo cách hiểu thứ hai thì phạm vi chủ thể nhờ mang thai hộ sẽ mở rộng hơn nhưng sẽ dẫn đến tình trạng tiêu cực trên thực tế như có những cặp vợ chồng không thực sự gặp vấn đề liên quan đến vô sinh hiếm muộn nhưng lại “cố tình” xin được giấy chứng nhận của cơ sở y tế có thẩm quyền để nhờ mang thai hộ dẫn đến hàng loạt các hệ lụy liên quan đến việc có dịch vụ cung cấp chứng nhận giả khi mà trên thị trường có cung ắt có cầu, làm biến tướng đi mục đích mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
Tại điểm đ khoản 1 Điều 14 Nghị định 10/2015 quy định về hồ sơ đề nghị thực hiện kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo: “Bản xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm về việc người vợ có bệnh lý, nếu mang thai sẽ có nhiều nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của người mẹ, thai nhi và người mẹ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản”. Như vậy, cách hiểu thứ hai phù hợp hơn với tinh thần của Nghị định 10/2015/NĐ-CP. Tuy nhiên, để hiểu rõ ràng về điều kiện này, luật hôn nhân quốc gia cần có những hướng dẫn cụ thể liên quan đến việc xác định rõ ràng cách thức tiến hành xác nhận khả năng mang thai của phụ nữ tại các cơ sở. Cơ quan y tế có thẩm quyền trước khi đưa ra kết luận y tế phải có chế tài ràng buộc về tính chính xác của những khai báo này nhằm hạn chế gian lận trong quá trình chứng nhận.
Thứ hai, với điều kiện “vợ chồng không có con chung”. Có thể nói, quy định pháp luật này dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau. Quan điểm thứ nhất cho rằng, cặp vợ chồng muốn nhờ mang thai hộ phải chưa từng có con chung với nhau tính đến thời điểm nhờ mang thai hộ. Tuy nhiên, cách hiểu này dẫn đến trường hợp vợ, chồng chưa có con chung tại thời điểm nhờ mang thai hộ nhưng lại có con riêng. Một quan điểm khác cho rằng pháp luật chỉ giới hạn việc vợ chồng đã có con chung thì không được nhờ mang thai hộ nên nếu vợ chồng đã có con chung nhưng đến thời điểm nhờ mang thai hộ thì không muốn mang thai hộ nữa. sinh thêm con nhưng vì lý do y tế mà người phụ nữ không thể mang thai thì vẫn được coi là đủ điều kiện mang thai hộ.
Vấn đề đặt ra là nếu trong trường hợp vợ chồng có với nhau một đứa con nhưng do đứa trẻ bị bệnh phát triển không bình thường, bị bệnh tâm thần nên vợ chồng muốn không có con nữa nhưng không thể thụ thai được nữa (trong trường hợp hiếm muộn). sinh con thứ 2)[12] được coi là đủ điều kiện để nhờ mang thai hộ vì thực chất họ “còn có con chung”.
Ngoài ra, Điều 14 Nghị định 10/2015/NĐ quy định, trong hồ sơ nhờ mang thai hộ cần có: “Văn bản xác nhận tình trạng độc thân của vợ, chồng do Ủy ban nhân dân cấp xã cấp. nơi thường trú của vợ, chồng yêu cầu xác nhận việc mang thai hộ”. Như vậy, nếu hiểu theo quy định của Nghị định 10/2015/NĐ-CP thì lĩnh vực đối tượng được mang thai hộ bị hạn chế, tức là chỉ những cặp vợ chồng chưa từng có con chung mới được phép mang thai hộ. . Việc Nghị định sử dụng thuật ngữ “không có con chung” mâu thuẫn với thuật ngữ “không có con chung” trong Luật Hợp đồng trong nước 2014, làm mất tính chính xác và thống nhất của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Theo quan điểm của tác giả, để thể hiện tính nhân đạo của quy định mang thai hộ, trường hợp các cặp vợ chồng đã có một con chung nhưng hiện tại con chung không còn sống hoặc phát triển không bình thường. muốn sinh thêm con nhưng vì lý do sức khỏe mà không thể tiếp tục sinh con thì pháp luật nên xem xét họ là đối tượng được mang thai hộ nếu họ tôn trọng pháp luật về dân số và kế hoạch hóa gia đình.
Thứ ba, điều kiện "để được tư vấn về y tế, pháp lý và tâm lý". Các quy tắc này nhằm giúp các bên trong quan hệ mang thai hộ hiểu và hình dung được quá trình mang thai hộ, các quyền và nghĩa vụ pháp lý phát sinh từ việc mang thai hộ, các vấn đề phát sinh khác như tâm lý và việc mang thai hộ của các bên… để có thể chuẩn bị tốt hơn cho quyết định của mình. trước khi bắt đầu hành trình làm cha mẹ thông qua việc mang thai hộ. Điều kiện này giúp bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích của phụ nữ và trẻ em sinh ra từ việc mang thai hộ. Nghị định 10/2015/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết việc tư vấn về y tế, pháp luật và tâm lý cho người nhờ mang thai hộ và người mang thai hộ[13]. Có thể nói, hoạt động tư vấn này góp phần quan trọng trong việc chuẩn bị đầy đủ sức khỏe, tâm thế, hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ mang thai hộ, để quá trình đẻ thay diễn ra suôn sẻ, thuận lợi, hạn chế những điều xấu nhất xảy ra. . các tình huống ảnh hưởng sức khỏe, tinh thần, tranh chấp giữa các bên trước, trong và sau quá trình mang thai hộ. Vì vậy, để hoạt động tư vấn hiệu quả tránh trường hợp tư vấn hình thức, cần chuyên nghiệp hóa hoạt động tư vấn bằng cách nâng cao kiến thức chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp và cần thiết đối với từng trường hợp, trong lĩnh vực tư vấn, chuyên gia tư vấn phải có chứng chỉ chuyên môn do cơ quan giám định chuyên môn cấp. .
Nội dung bài viết:
Bình luận