1. Khái niệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Do sự phát triển của xã hội, thể chế pháp luật cũng dần thay đổi, trách nhiệm sửa chữa thiệt hại không còn được coi là hình phạt mà là nghĩa vụ, nghĩa vụ của người bị hại phải bồi thường cho người bị hại. người bị thương. Trách nhiệm dân sự nói chung và trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói riêng mang đặc điểm của trách nhiệm dân sự. Đây là trách nhiệm pháp lý về bất động sản nhằm khôi phục lại tình trạng tài sản của người bị thiệt hại do cơ quan công quyền có thẩm quyền áp dụng. Tuy nhiên, việc khôi phục quyền sở hữu thông qua việc bồi thường thiệt hại do người gây thiệt hại gây ra không phải lúc nào cũng dẫn đến hậu quả như mong muốn. Vì nhiều lý do khác nhau, người gây thiệt hại không thể bồi thường và người bị thiệt hại không thể “khôi phục tài sản về trạng thái ban đầu” như trước khi bị thiệt hại. Vì vậy cần có những cơ chế, hình thức khác để khắc phục tình trạng tài sản của người bị thiệt hại.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng khác với trách nhiệm bồi thường thiệt hại được quy định trong hợp đồng. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hợp đồng gây ra là trách nhiệm dân sự phát sinh từ việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ hợp đồng. Đặc điểm của loại trách nhiệm này là có mối quan hệ hợp đồng giữa hai bên (bên chịu trách nhiệm và bên bị thiệt hại) và thiệt hại phải do hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ gây ra. Trong trường hợp các bên có quan hệ hợp đồng nhưng thiệt hại phát sinh không liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng thì trách nhiệm này là trách nhiệm ngoài hợp đồng. Trong trường hợp bị tổn hại đến tính mạng, sức khỏe, dù hai bên có quan hệ hợp đồng hay không thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được áp dụng trên thực tế. Điều này cũng tương tự như luật, vì trong quy định chung về nghĩa vụ không có quy định cụ thể về cách tính thiệt hại.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng khác với trách nhiệm hình sự. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng áp dụng cho tất cả các thể nhân, pháp nhân và các thực thể khác, nhưng trách nhiệm hình sự chỉ áp dụng đối với cá nhân hoặc pháp nhân thương mại.
Theo khoa học pháp luật dân sự, trách nhiệm bồi thường thiệt hại được hiểu là “một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống trách nhiệm dân sự; quan hệ pháp luật dân sự giữa đối tượng gây thiệt hại và đối tượng bị thiệt hại; là biện pháp cưỡng chế được áp dụng đối với chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại cho chủ thể khác.
Theo một quan điểm khác, “trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là loại trách nhiệm dân sự phát sinh khi một người vi phạm các nghĩa vụ do pháp luật quy định ngoài hợp đồng, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của một bên”. những người khác thì họ phải sửa chữa những thiệt hại mà họ đã gây ra.
Vì vậy, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một hình thức trách nhiệm dân sự phát sinh giữa các bên có lỗi với các bên (cố ý hoặc vô ý), gây tổn hại đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp luật. người và các chủ thể khác.
2. Lý do trách nhiệm bồi thường thiệt hại?
Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ban đầu là cơ sở pháp lý để cơ quan công quyền có thẩm quyền xác định trách nhiệm pháp lý đối với những thiệt hại thực tế xảy ra. Theo quy định tại Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015:
Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của người khác và gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp của Bộ. Luật này và các luật khác có liên quan có quy định khác.
Người gây thiệt hại không phải bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại xảy ra do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc có quy định khác trái pháp luật. .
Trong trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại xảy ra quy định tại khoản 2 Điều này.
Bộ luật Dân sự 2015 có quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có lợi cho bên bị thiệt hại.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ tồn tại trong trường hợp có thiệt hại trực tiếp hoặc gián tiếp về tài sản, tinh thần, sức khỏe... Trong trường hợp thiệt hại đó hoàn toàn do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi. Kể cả khi thiệt hại thực tế xảy ra thì người gây thiệt hại không phải bồi thường, trừ trường hợp có thoả thuận khác. và hành vi vi phạm này phải là hành vi vi phạm pháp luật. Một hành vi vi phạm gây thiệt hại có thể là vi phạm pháp luật hình sự, dân sự, hành chính, chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước.... Những hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại có hệ quả tất yếu và có quan hệ đều đặn, không ngẫu nhiên. Tuy nhiên, việc xác định mối quan hệ này trên thực tế gặp nhiều khó khăn nên cần phải xem xét việc phân tích. Đánh giá đầy đủ, toàn diện và khách quan. Mọi vấn đề pháp lý phát sinh từ việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hoặc các vấn đề dân sự khác... Gọi ngay: 1900.6162 để được luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến.
3. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một trong những thiết chế luật dân sự đầu tiên được thành lập kể từ thời La Mã hàng nghìn năm trước. Theo thời gian, hệ thống bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đã được cải thiện. Với hợp đồng dân sự, thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây ra là căn cứ chủ yếu làm phát sinh nghĩa vụ dân sự. Ở Việt Nam, việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chủ yếu được quy định bởi Bộ luật Dân sự. Ngoài ra còn được quy định tại Bộ luật Hàng hải, Hàng không dân dụng, Bộ luật Lao động....
Theo quy định tại Điều 558 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Thiệt hại thực tế phải được sửa chữa đầy đủ, kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận một lần hoặc nhiều lần về mức thù lao, hình thức trả thù lao bằng tiền, hiện vật hoặc theo thực hiện công việc, phương thức trả thù lao, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.
Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan công quyền khác có thẩm quyền sửa đổi mức bồi thường.
Khi bên bị thiệt hại phải chịu trách nhiệm về thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.
Bên bị vi phạm quyền và lợi ích sẽ không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn hoặc hạn chế thiệt hại cho mình.
Bên vi phạm pháp luật gây thiệt hại có nghĩa vụ bồi thường mọi thiệt hại mà bên bị thiệt hại phải gánh chịu và phải bồi thường trong thời gian sớm nhất số tiền mà hai bên đã thỏa thuận mà hai bên không thể đạt được. được cơ quan có thẩm quyền xác định. Căn cứ của nghĩa vụ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là hành vi vi phạm pháp luật, thiệt hại xảy ra, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật với thiệt hại và lỗi của bên vi phạm. Tuy nhiên, chủ nguồn điện rất nguy hiểm, chủ vật nuôi, chủ nhà... đều phải sửa chữa thiệt hại kể cả khi họ không có lỗi, trừ trường hợp thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại hoặc do bị cưỡng bức. sự kiện lớn.
Quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại
4. Xác định mức độ thiệt hại được bồi thường.
* Thiệt hại do hàng giả gây ra: người có trách nhiệm bồi thường phải bồi thường số tiền sau:
- Giá trị tài sản bị mất, bị hư hỏng, hư hỏng.
- Giá trị lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất hoặc bị giảm sút.
- . Chi phí hợp lý để ngăn ngừa, hạn chế và khắc phục thiệt hại.
- Các thiệt hại khác theo quy định của pháp luật.
* Tổn thất sức khỏe do bị tổn hại sức khỏe: Người có hành vi gây tổn hại đến sức khỏe của người khác thì phải bồi thường những khoản sau đây.
- Chi phí hợp lý cho việc điều trị y tế và phục hồi chức năng.
- Thu nhập thực tế của bên bị thiệt hại bị mất hoặc bị giảm sút; nếu thu nhập thực tế của người bị thương không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng thu nhập bình quân của cùng loại người lao động.
- Chi phí hợp lý và tổn thất thu nhập thực tế của người chăm sóc người bị thương tật trong thời gian điều trị; nếu người bị thương mất khả năng lao động và cần người chăm sóc thường xuyên thì thiệt hại bao gồm các chi phí hợp lý để chăm sóc người bị thương.
- Các thiệt hại khác theo quy định của pháp luật.
* Thiệt hại từ Cuộc sống bị xâm phạm bao gồm:
- Mọi chi phí bồi thường thiệt hại do sức khoẻ bị tổn hại theo quy định tại Điều 590 Bộ luật Dân sự 2015.
- Chi phí mai táng hợp lý;
- Cấp dưỡng cho người mà người bị thiệt hại phải cấp dưỡng;
- Các thiệt hại khác theo quy định của pháp luật.
* Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị tổn hại bao gồm:
- Chi phí hợp lý để hạn chế và khắc phục thiệt hại.
- Thiệt hại hoặc giảm sút thực tế thu nhập của người bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín.
- Bồi thường thiệt hại tinh thần mà nạn nhân phải gánh chịu.
- Các thiệt hại khác theo quy định của pháp luật.
5. Khả năng chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân.
- Người từ 18 tuổi trở lên gây hư hỏng phải tự sửa chữa.
- Nếu người dưới mười lăm tuổi gây thiệt hại mà cha hoặc mẹ vẫn chưa đủ 15 tuổi thì cha hoặc mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường và con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì tài sản đó được dùng để bù đắp phần thiếu hụt, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 của Bộ luật này.
- Người từ đủ mười lăm tuổi đến mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải sửa chữa bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha hoặc mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.
- Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại có người giám hộ thì người giám hộ này được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không có đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ
Nội dung bài viết:
Bình luận