1. Khái quát chung về tội trộm cắp tài sản và tội công nhiên chiếm đoạt tài sản
Đối với tội trộm cắp tài sản:
- Cơ sở pháp lý: Điều 168 BLHS 2015
Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 168 BLHS 2015 (sửa đổi 2017) thì cá nhân dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được. chiếm đoạt tài sản thì hành vi đó bị coi là trộm cắp.
Như vậy, dấu hiệu đặc trưng của tội trộm cắp tài sản là “Dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công rơi vào tình trạng không thể chống cự nhằm chiếm đoạt tài sản”. “Tức là, thủ phạm dùng vũ lực tác động vào cơ thể nạn nhân nhằm đe dọa sẽ dùng vũ lực ngay tức thì, làm tê liệt tinh thần nạn nhân, không còn khả năng phản kháng thì mới có ý định chiếm đoạt tài sản.
Hiện nay, tội cướp tài sản có khung hình phạt tối đa lên đến chung thân. Đối với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản:
- Cơ sở pháp lý: Điều 170 BLHS 2015
Theo khoản 1 Điều 170 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) thì chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần của người khác nhằm chiếm đoạt tài sản. .
Như vậy, dấu hiệu đặc trưng của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là “đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần nhằm chiếm đoạt tài sản”. Tức là người phạm tội đã đe dọa dùng vũ lực vào một thời điểm nào đó trong tương lai, chưa gây nguy hiểm ngay. Trong trường hợp này, người bị đe dọa vẫn có một khoảng thời gian để phản ánh, phản ánh, tìm biện pháp ngăn chặn.
Hiện tội cướp tài sản có mức án cao nhất là 20 năm tù.
Đe doạ dùng vũ lực
2. Thế nào là hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc?
Hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc có thể nói là hành vi dùng lời nói hoặc hành động đe dọa nạn nhân, nếu không sẽ dùng vũ lực ngay. Tức là có những hành vi đe dọa nhằm làm cho người bị hại hiểu rằng nguy hiểm sắp xảy ra và không thể trốn tránh mà không giao ngay tài sản. Người bị đe dọa không có điều kiện phản ánh, xem xét hoặc tìm biện pháp ngăn chặn hành vi mà người đe dọa gây hấn, cường độ đe dọa làm tê liệt ý chí phản kháng của người bị đe dọa. Mục đích của hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc là làm cho người bị tấn công sợ hãi, tin rằng nếu không giao tài sản thì tính mạng, sức khỏe của họ sẽ bị nguy hiểm. Ở đây thường kết hợp việc sử dụng vũ lực với thái độ, cử chỉ, lời nói bạo lực, tạo cảm giác người bị tấn công sợ hãi và tin rằng kẻ xâm lược sẽ sử dụng vũ lực.
Ví dụ: Kẻ xâm hại kề dao vào cổ, dí súng vào bụng và dùng những lời lẽ đe dọa nghiêm trọng nhằm tác động trực tiếp vào tâm lý nạn nhân, buộc nạn nhân phải giao nộp ngay đồ đạc nếu không sẽ bị đâm ngay.
3. Thế nào là hành vi đe dọa dùng vũ lực?
Đe dọa dùng vũ lực là hành vi bằng lời nói, cử chỉ hoặc hành động làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng nếu không giao tài sản cho mình thì sẽ bị đánh đập, bị đau đớn về thể xác. Tuy nhiên, tuy nhiên điều này được thực hiện, việc sử dụng vũ lực không xảy ra ngay lập tức. Nói cách khác, sau khi đe dọa, việc sử dụng vũ lực có thể xảy ra sau đó, không có nguy hiểm ngay lập tức. Như vậy, đối với hành vi đe dọa dùng vũ lực thì người bị đe dọa vẫn có thời gian phản ánh, phản ánh và tìm biện pháp ngăn chặn.
Trường hợp người bị hại bị đe dọa dùng vũ lực nếu không giao tài sản cho người phạm tội mà người bị hại không sợ và không giao tài sản cho người phạm tội thì người phạm tội đã thực hiện hành vi vũ lực đối với người bị hại là không phải là hành vi trộm cắp tài sản, nhưng vẫn là hành vi chiếm đoạt tài sản.
Theo đó, việc đe dọa dùng vũ lực có thể được thực hiện dưới hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp.
Ví dụ:
- Đe dọa trực tiếp: Người gây hấn có hành động đe dọa thông qua lời nói, cử chỉ, hành động, v.v. trực tiếp, công khai với nạn nhân nhưng không có biểu hiện dùng vũ lực ngay mà sẽ có thời gian tạm hoãn để nạn nhân suy nghĩ, cân nhắc;
- Đe dọa gián tiếp: Kẻ tấn công đe dọa thông qua các hình thức như nhắn tin, gọi điện thoại… mà không gặp trực tiếp nạn nhân.
4. Sự khác nhau giữa “đe dọa dùng vũ lực ngay” và “đe dọa dùng vũ lực”
- Về cường độ tấn công và đe dọa:
Đối với tội cướp tài sản, hành vi “đe dọa dùng vũ lực” phải có dấu hiệu “ngay lập tức”, tức là làm cho nạn nhân rơi vào tình trạng không thể chịu đựng được dẫn đến “tê liệt xác định”. Do đó, cường độ đe dọa mạnh đến mức làm cho người bị đe dọa thấy rằng việc dùng vũ lực sẽ được thực hiện ngay lập tức nếu họ thực hiện hành vi cản trở, bản thân họ sẽ không thực hiện hoặc họ khó tránh khỏi sự đe dọa này.
Đối với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, hành vi “đe dọa dùng vũ lực” không có dấu hiệu “ngay lập tức”, tức là người bị hại vẫn còn thời gian để suy nghĩ, lựa chọn về yêu cầu của đối tượng thực hiện tội phạm. . Ngoài ra, cường độ của mối đe dọa ít dữ dội hơn so với mối đe dọa tức thời của lực lượng.
- Về thời điểm chiếm đoạt tài sản:
Đối với tội cướp tài sản, “hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc” là hành vi dùng vũ lực sẽ xảy ra ngay sau khi thực hiện hành vi đe dọa nếu bị chống cự.
Đối với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là “hành vi đe dọa dùng vũ lực” là không nhanh chóng kịp thời. Không thể thực hiện ngay sau hành vi đe dọa nhưng sẽ thực hiện trong tương lai.
- Về mức độ ảnh hưởng đến ý chí kháng cự của người bị đe dọa:
Đối với tội cướp tài sản, “hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc” làm tê liệt hoàn toàn ý chí chống trả của người bị đe dọa, khiến họ chỉ còn cách buộc phải giao tài sản cho người phạm tội nếu không thực hiện được. muốn cuộc sống của họ bị tổn thương.
Đối với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là “hành vi đe dọa dùng vũ lực” thì người bị đe dọa không làm chủ được hoàn toàn ý chí của mình thì người bị đe dọa vẫn có thời gian và điều kiện để lựa chọn cách xử lý phù hợp hơn là giao tài sản cho người phạm tội.
- Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi
Đối với tội trộm cắp tài sản, “hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc” thể hiện mức độ nguy hiểm cao.
Đối với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản thì “hành vi đe dọa dùng vũ lực” có tính chất và mức độ nguy hiểm thấp hơn.
- Về cách thức thực hiện hành vi:
Đối với tội trộm cắp tài sản, “hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc” được thể hiện dưới hình thức đe dọa nghiêm trọng kèm theo hành động trực tiếp gây nguy hiểm cho người bị đe dọa. . Người phạm tội sẵn sàng thực hiện ngay hành vi xâm hại đến sức khỏe, tính mạng của nạn nhân.
Ví dụ: Người phạm tội thường đe dọa gay gắt như: “mày không nghe tao giết…”; kề dao vào cổ, dùng tay bóp cổ; và hình thức phổ biến nhất trong thực tế hiện nay là kết hợp giữa đe dọa và hành động (chĩa súng vào chùa và dọa nếu không nghe lời tôi sẽ bắn ngay).
Do đó, bằng những hành động quyết liệt đối với kẻ xâm lược, anh ta kiểm soát ý chí và làm tê liệt ý chí phản kháng của nạn nhân.
Đối với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, “hành vi đe dọa dùng vũ lực” thể hiện rõ tính đe dọa không quyết liệt bằng tội trộm cắp tài sản và hành vi dùng vũ lực có thể thực hiện được sau một thời gian nhất định. Hậu quả của hành vi này khiến nạn nhân hoảng sợ nhưng chưa đến mức làm tê liệt hoàn toàn ý chí phản kháng.
- Đặc biệt, giữa thời điểm đe dọa dùng vũ lực và thời điểm dùng vũ lực phải có một khoảng thời gian nhất định để người bị đe dọa có điều kiện suy nghĩ, xem xét trước khi quyết định hành vi. Đây là một trong những điểm cơ bản để phân biệt với mối đe dọa trực tiếp của lực lượng bay.
5. Phân biệt hai hành vi “đe dọa dùng vũ lực ngay” và “đe dọa dùng vũ lực”
Hành vi đe dọa dùng vũ lực là không có hành vi dùng vũ lực mà chỉ có hành vi đe dọa, dùng lời nói, cử chỉ tác động vào tâm lý của nạn nhân. Trong thời gian này, nếu kẻ gây hấn vừa đe dọa vừa dùng vũ lực (tuy hành vi dùng vũ lực không mạnh bằng vũ lực nhưng kẻ gây hấn đe dọa nạn nhân) thì vẫn bị coi là hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay. Ví dụ: Nguyễn Văn A gặp chị Trần Thị B trên một đoạn đường vắng, lập tức A lao vào ngăn cản chị B. A liền túm cổ áo chị B rút dao dí vào người, siết chặt vào người chị B. cổ, sau đó sử dụng nó. có lời lẽ đe dọa buộc bà B phải tháo sợi dây chuyền, đôi bông tai đưa ngay cho A nếu không sẽ có hành vi đối với bà B. Hành vi của A phải được coi là hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc.
Trên thực tế, việc xác định thế nào là đe dọa dùng vũ lực không khó bằng việc xác định ngay thế nào là đe dọa dùng vũ lực. Phân biệt hai hành vi này là dấu hiệu rất quan trọng để phân biệt tội trộm cắp tài sản với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, nếu đe dọa dùng vũ lực mà không thực hiện ngay là có dấu hiệu của tội trộm cắp tài sản. Tức thì có nghĩa là ngay lập tức không do dự, khả năng khó tránh khỏi nếu người bị hại không trả lại tài sản cho người phạm tội. Khả năng này không phụ thuộc vào lời nói hay hành động của người phạm tội mà tiềm ẩn trong hành vi của người phạm tội. Đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc cũng có nghĩa là nếu nạn nhân không trả lại tài sản hoặc không để kẻ xâm hại lấy tài sản thì sẽ dùng vũ lực.
Tuy nhiên, do chưa xảy ra vũ lực nên việc đánh giá xem kẻ xâm hại có dùng vũ lực hay không trong trường hợp nạn nhân không giao tài sản là một vấn đề phức tạp. Thông thường, kẻ xâm hại không bao giờ thừa nhận hành vi dùng vũ lực ngay nếu nạn nhân không giao tài sản hoặc không cho kẻ xâm hại lấy tài sản. Vì vậy, để xác định người phạm tội có đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hay không thì ngoài lời khai của người phạm tội, các cơ quan tố tụng còn phải căn cứ vào các tình tiết khác của vụ án như: không gian, thời gian, hoàn cảnh tại thời điểm xảy ra hành vi phạm tội. sự cố; về công cụ, phương tiện mà người phạm tội sử dụng để phạm tội...
Ví dụ: Trong đêm tối, trên đường vắng, một người dùng dao đâm vào cổ người khác, yêu cầu người đó giao nộp đồ đạc, nếu không sẽ giết. Khi đó, một tổ tuần tra đã phát hiện và bắt giữ đối tượng vi phạm. Trong trường hợp này, cho dù kẻ phạm tội khai rằng chỉ có ý định uy hiếp chứ không có ý định dùng vũ lực hay sát hại nạn nhân thì không có cơ sở để tin rằng lời khai của kẻ hành hung là đúng sự thật, nhưng trong trường hợp này thì sẽ cần phải xác định ngay kẻ có hành vi đe dọa dùng vũ lực.
Nội dung bài viết:
Bình luận