Phạm vi tái thẩm hình sự

phan-biet-so-tham-phuc-tham-giam-doc-tham-va-tai-tham-2

 phạm vi tái thẩm

1. Tái thẩm là gì? 

 Theo  Điều 397 Bộ luật tố tụng hình sự: “Tái thẩm phiên tòa là việc xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhưng bị kháng nghị do có những tình tiết mới phát hiện mà về cơ bản có thể đã được phát hiện”. thay đổi nội dung bản án, quyết định mà Tòa án không biết vào thời điểm ra bản án, quyết định. 

 

 Qua đây ta có thể hiểu: Thủ tục tái thẩm là hình thức pháp lý do Toà án có thẩm quyền áp dụng để xét lại bản án, quyết định hình sự đã có hiệu lực pháp luật mà người có thẩm quyền kháng nghị do có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà không được biết của Tòa án  khi ra bản án, quyết định  đó, nhằm bảo đảm  sự thật của vụ án được xác lập một cách khách quan, đầy đủ và đầy đủ.  

 1.1. Đối tượng của một vụ kiện mới 

 Đối tượng xét xử mới là  bản án, quyết định đã trở thành luật nhưng bị kháng nghị do phát hiện  tình tiết mới. Việc xác định đối tượng của thủ tục tái thẩm đóng vai trò quan trọng. Đó là dấu hiệu để phân biệt sự khác nhau cơ bản  giữa thủ tục tái thẩm với  thủ tục xét xử phúc thẩm và  phúc thẩm. Chủ thể của vụ kiện mới có các đặc điểm sau: 

 

 

 Thứ nhất, đối tượng của thủ tục  giám đốc thẩm là bản án, quyết định của Tòa án chứ không phải là đối tượng của  vụ án như ở cấp  sơ thẩm và phúc thẩm.  

 Thứ hai, bản án, quyết định được áp dụng thủ tục tái thẩm phải là  bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Đây là  bản án sơ thẩm nếu không có kháng cáo, kháng nghị khi cấp phúc thẩm. Trường hợp bản án đã qua các cấp xét xử  phúc thẩm.  Thứ ba, không phải mọi bản án, quyết định đã có hiệu lực đều phải xét xử mới. Đối tượng  tái thẩm chỉ có thể là bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng  bị kháng nghị do phát hiện  tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án không biết tại thời điểm ra bản án. hoặc quyết định. 

 1.2. Mục đích của thử nghiệm mới 

 Thủ tục tái thẩm là thủ tục pháp lý để kiểm tra tính hợp pháp của  bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Nếu bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật là không có căn cứ thì  bị hủy; khôi phục  trình tự tố tụng  giải quyết lại vụ án hình sự để khắc phục  sai sót nghiêm trọng của Tòa án mà không có lý do thì  bị đình chỉ; lập lại trật tự tư pháp bằng cách xác định sự thật của vụ án, bảo đảm hiệu lực của  bản án, quyết định của Tòa án.  

 Tòa án có thẩm quyền tái thẩm không xét xử lại vụ án mà chỉ  xem xét những tình tiết mới được phát hiện làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định đang có tranh chấp. Xem xét tác động của tình tiết mới  đối với vụ án nếu tình tiết đó làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định bị kháng nghị. Kiểm tra hiệu lực của bản án, quyết định bị kháng cáo. 

 1.3. Cơ sở pháp lý cho một thử nghiệm mới 

 Mục 398 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015  quy định  căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm 

 

 Bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm khi có một trong các căn cứ sau đây: 

 

  1. Có lý do để chứng minh lời khai của người làm chứng, kết luận giám định, kết luận định giá tài sản, bản dịch, lời dịch của người phiên  dịch  có những điểm  không đúng sự thật; 

 

  1. Có những trường hợp do Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm  không biết  mà kết luận có sai sót, làm cho  quyết định xét xử có hiệu lực pháp luật bị sai lệch, thiếu khách quan. 

 

  1. Vật chứng, biên bản  điều tra, truy tố, xét xử, biên bản các hoạt động tố tụng khác hoặc  chứng cứ, tài liệu, sự việc khác của vụ án bị làm giả, sai sự thật; 

 

  1. Những tình tiết khác làm cho bản án, quyết định của Toà án  có hiệu lực pháp luật không đúng và không khách quan của vụ án.” 

 

 Căn cứ làm phát sinh thủ tục tái thẩm là kháng nghị xem xét lại. Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành, căn cứ để tiến hành  thủ tục tái thẩm chỉ có thể là kháng nghị của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng  (Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên). Do tính chất đặc biệt của đối tượng tái thẩm nên kháng nghị tái thẩm cũng có một số điểm khác biệt so với kháng nghị của các chủ đề khác. 

 

 Căn cứ của thủ tục tái thẩm cũng khác  với căn cứ của thủ tục giám đốc thẩm. Mặc dù cơ sở của vụ việc đã bị tranh chấp bởi những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, nhưng cơ sở kháng nghị của Giám đốc Giám định và Giám định lại là khác nhau. Nếu căn cứ đề nghị giám định của giám đốc thẩm  là những điểm pháp lý quan trọng trong việc giải quyết vụ án thì căn cứ của yêu cầu giám định lại là những sai sót trong việc xác định tính xác thực của vụ án. Phải xem xét lại tính xác thực của vụ án khi phát hiện những tình tiết mới  có thể làm thay đổi nội dung cơ bản của bản án, quyết định mà tại thời điểm ra bản án, quyết định Tòa án chưa biết hết. Nói cách khác, những tình tiết mới  phát hiện này làm dấy lên nghi ngờ về tính  xác thực của bản án, quyết định  có hiệu lực pháp luật.  

 2. Thẩm quyền và phạm vi xét xử hình sự 

 2.1. Thẩm quyền xét xử hình sự mới 

 Thẩm quyền xét xử lại về cơ bản được xác định theo nguyên tắc  Tòa án cấp trên trực tiếp có thẩm quyền xét xử lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp dưới. 

  Khi xét  bản án, quyết định  có hiệu lực pháp luật, Hội đồng tái thẩm không xem xét lại các tình tiết của vụ án,  không có quyền ra bản án hoặc  ra quyết định mới  thay thế  bản án. tòa án. Tòa án có thẩm quyền tái thẩm chỉ có thể ra phán quyết đối với bản án, quyết định có tranh chấp. Nếu phát hiện có tình tiết mới làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định thì bị hủy bản án, quyết định. Ngược lại, nếu  tình tiết mới được phát hiện không ảnh hưởng đến bản án, quyết định bị tranh chấp thì phải khẳng định bản án, quyết định  có hiệu lực pháp luật. Nếu có căn cứ kết thúc vụ án thì hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và kết thúc vụ án.  

 

 2.2. Phạm vi xét xử hình sự 

 Người có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm  quy định tại Điều 400 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 bao gồm các đối tượng sau đây: 

 

 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm  bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án các cấp, trừ quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. 

  Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm  bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án quân sự  quân khu, Toà án quân sự khu vực.  

 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm  bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân  tỉnh,  huyện thuộc  thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ. 

  Theo quy định trên thì chủ thể có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm thuộc  Viện kiểm sát. Đây cũng chính là điểm khác biệt giữa thủ tục tái thẩm và thủ tục giám đốc thẩm mà chủ thể là Tòa án. Sự khác biệt này là do hoạt động giám sát các phiên tòa và chức năng  xét xử của Văn phòng Công tố. “Có thể nói, giám đốc thẩm, tái thẩm là quyền, nghĩa vụ của cơ quan công tố và có ý nghĩa quan trọng  bảo đảm Tòa án xét xử  đúng người, đúng tội. , và pháp luật. 

  Tòa án  có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm  dựa trên chức năng giám đốc thẩm của Tòa án cấp trên đối với hoạt động xét xử của Tòa án cấp dưới. Nhờ công tác kiểm sát giám đốc thẩm mà Tòa án cấp trên  phát hiện được những vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong  bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và kháng nghị giám đốc thẩm  bản án, quyết định này. Tòa án không có quyền kháng nghị tái thẩm vì phải  xác minh sự có mặt, vắng mặt của những tình tiết mới và giá trị pháp lý của những tình tiết này, nhưng Tòa án  không có thẩm quyền tiến hành xác minh những tình tiết này. Như vậy, có thể thấy quy định  tái thẩm là cơ chế bảo đảm tăng cường trách nhiệm giải trình của nhà nước trước công dân, bảo đảm việc áp dụng pháp luật  nghiêm minh, công bằng, bảo vệ đầy đủ các quyền cơ bản nhất của công dân. Ngoài ra, thiết chế giám sát còn giúp bảo đảm  hiệu quả hoạt động và tính độc lập của các cơ quan xét xử, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.  

 2.3. Thời hạn phản đối các thủ tục mở cửa trở lại 

 Thời hạn kháng nghị  tái thẩm được quy định cụ thể tại Điều 401 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Như vậy, chúng ta sẽ thấy như sau: 

 

 Các biện pháp khắc phục hậu quả trong thủ tục tái thẩm chỉ được thực hiện trong một thời hạn nhất định. Trong mọi trường hợp, việc kháng nghị đối với người bị kết án chỉ được thực hiện trong thời hạn tố tụng hình sự và không được quá một năm kể từ ngày cơ quan công tố được thông báo về những tình tiết mới phát hiện được. Vì vậy, nếu chưa hết thời hạn một năm để cơ quan công tố xác minh tình tiết mới mà thời hiệu tố tụng hình sự đã hết thì  không được kháng nghị theo thủ tục tái thẩm với ý nghĩa là không có lợi cho bị cáo bị kết án. Trong trường hợp này, cơ quan công tố phải  kháng nghị trong thời hạn tố tụng hình sự, nhưng không được để quá thời hạn một năm trước khi kháng nghị. Mặt khác, thời hạn kháng cáo đối với việc xét xử mới không giới hạn đối với kháng nghị  có lợi cho người bị kết án. Việc phản kháng  theo hướng này được thực hiện ngay cả khi người bị kết án đã chết, nhưng cần phải biện minh  cho họ. 

  Nếu có việc dân sự trong vụ án hình sự đối với nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án  phải kháng nghị thì việc kháng nghị được tiến hành theo quy định của tố tụng dân sự.

Nội dung bài viết:

    Hãy để lại thông tin để được tư vấn

    comment-blank-solid Bình luận

    084.696.7979 19003330 Báo giá Chat Zalo