phạm tội ở nước ngoài
1. Người Việt Nam phạm tội ở nước ngoài bị xử lý như thế nào?
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 6 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì hiệu lực của Bộ luật Hình sự đối với hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam như sau:
"Thứ nhất. Công dân Việt Nam, pháp nhân thương mại Việt Nam phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà Bộ luật này quy định là tội phạm thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam theo quy định của Bộ luật này.
Như vậy, không ở là hành vi vi phạm pháp luật tại Việt Nam, chỉ nên bị xử lý theo pháp luật Việt Nam, nhưng người Việt Nam phạm tội ở nước ngoài có thể bị xử lý hình sự theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Việc xử lý tội phạm ở nước ngoài cũng phải thông qua các hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự giữa Việt Nam và nước sở tại. Theo danh mục Hiệp định tương trợ tư pháp và tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và các nước, Việt Nam và Tây Ban Nha đã ký Hiệp định tương trợ tư pháp vào ngày 15/8/2015.
Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, phạm vi hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự phải bảo đảm nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của các bên và nguyên tắc có đi có lại. Xin nhắc lại là phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế, không trái pháp luật Việt Nam
“Điều 491. Phạm vi hợp tác quốc tế trong lĩnh vực hình sự
- Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự là việc cơ quan hữu quan của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và cơ quan hữu quan của nước ngoài phối hợp, hỗ trợ nhau trong việc thực hiện các hoạt động của mình nhằm đáp ứng yêu cầu điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.
- Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự bao gồm tương trợ tư pháp về hình sự; dẫn độ; việc tiếp nhận, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù và các hoạt động hợp tác quốc tế khác theo quy định của Bộ luật này, Luật tương trợ tư pháp và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
- Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo nguyên tắc có đi có lại theo quy định của bộ luật này. pháp luật về tương trợ tư pháp và các quy định khác có liên quan của pháp luật Việt Nam.
Điều 492. Nguyên tắc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực hình sự
Đầu tiên. Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự được thực hiện trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, các bên cùng có lợi, tuân thủ Hiến pháp, pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà các bên tham gia. Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên ký kết.
- Trong trường hợp Việt Nam chưa ký kết hoặc tham gia điều ước quốc tế có liên quan thì hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự được thực hiện theo nguyên tắc có đi có lại nhưng không trái với pháp luật Việt Nam, phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với pháp luật quốc tế và tập quán quốc tế. .”
Cơ quan nhà nước sẽ dựa vào BLHS Việt Nam để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm. Ngoài ra, việc xử lý tội phạm ở nước ngoài cũng cần sự hỗ trợ của nước bạn thông qua Hiệp định tương trợ tư pháp trong lĩnh vực hình sự giữa Việt Nam và Tây Ban Nha. Hai trường hợp có thể xảy ra. Trường hợp đầu tiên có thể bị Việt Nam dẫn độ về nước để xét xử. Trường hợp thứ hai là xét xử ở nước ngoài và chấp hành án ở nước ngoài.
2. Hình phạt cho tội hiếp dâm ở Việt Nam là bao nhiêu năm?
Theo quy định tại khoản 2 Điều 27 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) thì thời hiệu khởi tố vụ án hình sự được quy định như sau:
– Mười năm đối với tội phạm nghiêm trọng (Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất đặc biệt nguy hiểm cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội phạm đó là trên 03 năm đến 07 năm tù).
– Mười lăm năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng (Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất rất nguy hiểm cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội phạm đó là trên 07 năm tù đến 15 năm tù).
- Hai mươi năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất đặc biệt nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội phạm này là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù tù chung thân hoặc tử hình).
Còn hành vi bạn mô tả trong câu hỏi là hành vi mô tả hành vi hiếp dâm. Hiếp dâm được quy định tại điều 141 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Theo đó, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội hiếp dâm phụ thuộc vào mức độ nguy hiểm của tội phạm. Nếu hành vi phạm tội thuộc khoản 1 Điều 141 thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là 10 năm; theo khoản 2 và khoản 4 điều 141 thì thời hiệu là 15 năm; Khoản 3, thời hiệu là 20 năm.
Nội dung bài viết:
Bình luận