phạm tội 2 lần là gì
1. Khái niệm phạm tội 2 lần trở lên
Phạm tội hai lần trở lên là phạm tội mà chủ thể đã thực hiện ít nhất một lần trước đó và chưa bị xét xử. Đây là trường hợp một người đã thực hiện ít nhất hai lần cùng một tội (cùng một tội) và cả hai lần đều chưa bị xét xử. Các tội này có thể có cùng chủ thể hoặc khác chủ thể, có thể thuộc cùng một khung hình phạt hoặc thuộc các khung hình phạt khác nhau. Phải phân biệt hai lần phạm tội trở lên với trường hợp phạm tội liên tiếp. Trong trường hợp có tính chất liên tục thì các tội phạm được thực hiện chỉ là một bộ phận cấu thành của một tội phạm thống nhất. Trong trường hợp có từ hai hành vi vi phạm trở lên, hành vi vi phạm và hậu quả của chúng là độc lập với nhau.
Phạm tội hai lần trở lên là tình tiết có thể được quy định là dấu hiệu tăng nặng hình phạt đối với một số tội phạm hoặc là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với tội phạm khác. Trong BLHS 2015, phạm tội quy định tại Điều 52 2 lần trở lên là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự cùng nhóm với tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm. Ngoài ra, tình tiết phạm tội 2 lần trở lên cũng được quy định là tình tiết định khung tăng nặng của nhiều tội phạm khác nhau. Tội phạm được quy định bởi một điều hoặc một khoản của điều tương ứng trong phần các tội phạm của BLHS. Đó là điểm đặc trưng của tình tiết tái phạm và được dùng để phân biệt với tình tiết phạm nhiều tội. Người phạm tội hai lần thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm, mỗi lần thực hiện một hành vi có đủ các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm độc lập và tội phạm do cùng một điều hoặc cùng một khoản tương ứng được quy định trong bộ luật hình sự. Mã hóa.
Tội này vẫn còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và đồng thời người phạm tội phải bị đưa ra trước công lý. Đặc điểm “người phạm tội phải bị đưa ra xét xử cùng một lúc” có nghĩa là các hành vi phạm tội trước đó chưa bị xét xử. Đây là đặc điểm để phân biệt tái phạm với tái phạm nguy hiểm.
2. Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp
Theo điều 5 nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 thì phạm tội chuyên nghiệp chỉ được hiểu trong trường hợp “phạm tội chuyên nghiệp” khi có đủ các điều kiện sau::
(i) Cố ý phạm tội từ năm tội trở lên về cùng một tội, dù đã hoặc chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xóa án tích;
(ii) Người phạm tội đều kiếm sống bằng việc phạm tội và coi kết quả phạm tội là nguồn thu nhập chính của mình.
Khi áp dụng tình tiết “phạm tội chuyên nghiệp” phải phân biệt:
(i) Trường hợp phạm tội năm lần trở lên mà một trong các tội đã bị kết án chưa được xóa án tích thì tuỳ trường hợp cụ thể, người phạm tội có thể bị áp dụng ba điều kiện. phạm tội 2 lần trở lên”, “tái phạm” (hoặc “tái phạm nguy hiểm”) và “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp”.
(ii) Đối với tội mà “tội phạm nghề nghiệp” được điều luật quy định là tình tiết định khung hình phạt thì không áp dụng tình tiết tăng nặng đó. 52 Bộ luật hình sự. Nếu điều luật không quy định tình tiết này là tình tiết quyết định phạm vi hình phạt thì áp dụng tình tiết tăng nặng tương ứng quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Nội dung bài viết:
Bình luận