Nhà nước khuyến khích và luôn tạo cơ hội để các bên có mâu thuẫn tự giải quyết, hòa giải tại cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thay vì khởi kiện ra tòa. Như vậy, có trường hợp nào bắt buộc phải hòa giải trước khi mở phiên tòa không?

1. Hòa giải trong tranh chấp lao động
Nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động của Bộ luật Lao động 2019 tiếp tục ghi nhận việc coi trọng giải quyết tranh chấp lao động thông qua hòa giải.
Bộ luật Lao động 2019 quy định tranh chấp lao động bao gồm:
- Tranh chấp lao động cá nhân; và
- Tranh chấp lao động tập thể:
Tranh chấp lao động tập thể về quyền; và
Tranh chấp lao động tập thể về lợi ích.
Trong đó, các loại tranh chấp sau đây bắt buộc phải thông qua thủ tục hòa giải:
(1) Tranh chấp lao động cá nhân
Theo quy định tại khoản 1 Điều 188 Bộ luật Lao động 2019, tranh chấp lao động cá nhân phải được giải quyết thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:
Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;
Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;
Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;
Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế, về bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về việc làm, về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động;
Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
Giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại. (2) Tranh chấp lao động tập thể về quyền
Theo khoản 2, mục 191 của Bộ luật Lao động 2019, tranh chấp lao động tập thể về quyền phải được giải quyết thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi đưa ra Hội đồng trọng tài lao động hoặc tòa án giải quyết. .
(3) Tranh chấp lao động tập thể về lợi ích
Theo đó, tại Khoản 2, Điều 195 Bộ luật Lao động 2019 quy định tranh chấp lao động tập thể về lợi ích phải được giải quyết thông qua thủ tục hòa giải của Hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết hoặc tiếp tục đình công.
=> Các loại tranh chấp lao động kể cả tranh chấp lao động cá nhân; Tranh chấp lao động tập thể về quyền, lợi ích phải thông qua thủ tục hòa giải trước khi đưa ra Hội đồng trọng tài hoặc Tòa án giải quyết. Điều này phù hợp với Nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động của BLLĐ 2019.
2. Hòa giải tranh chấp đất đai
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 202 Luật đất đai 2013, nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai sử dụng hình thức tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải cơ sở.
Đối với tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không tự giải quyết được thì gửi đơn yêu cầu đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.
Với việc quy định cụm từ “nhà nước khuyến khích” thì không rõ thủ tục hòa giải có bắt buộc đối với mọi tranh chấp đất đai hay không. Về vấn đề này, tiếp tục căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định về trường hợp chưa đủ điều kiện khởi kiện và sẽ có hướng dẫn chi tiết. Khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP như sau:
2. Đối với tranh chấp về người có quyền sử dụng đất mà chưa được giải quyết tại Ủy ban nhân dân cấp xã, huyện, thị trấn nơi có đất tranh chấp theo quy định tại Điều 202 Luật đất đai 2013 , anh không đủ điều kiện để khởi kiện quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Đối với các tranh chấp khác liên quan đến quyền sử dụng đất như: tranh chấp về giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất, chia tài sản chung của vợ, chồng là quyền sử dụng đất,… thì thủ tục hòa giải tại TAND Phòng Ủy ban xã, huyện, huyện nơi có đất tranh chấp không phải là điều kiện để khởi kiện ra tòa.
Như vậy, theo tinh thần của Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP thì chỉ những tranh chấp đất đai về người có quyền sử dụng đất mới phải thông qua thủ tục hòa giải, còn các tranh chấp khác như tranh chấp về giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất, chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất… không nhất thiết phải là đối tượng hòa giải thì mới tiến hành khởi kiện.
3. Hòa giải trong thủ tục ly hôn
Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì ly hôn có thể được hòa giải ít nhất hai lần trước khi tòa án giải quyết thủ tục ly hôn. Đặc biệt:
- Hòa giải ở cơ sở:
Theo quy định tại Điều 52 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nhà nước và xã hội khuyến khích hòa giải ở cơ sở khi vợ, chồng thuận tình ly hôn. Việc hòa giải được thực hiện theo quy định của Luật hòa giải tại hiện trường. Hòa giải tại chỗ là cơ hội để các cặp vợ chồng giải quyết tranh chấp, được nhà nước khuyến khích nhưng không áp đặt.
- Hòa giải trước tòa án:
Theo đó, Điều 54 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định sau khi thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, tòa án tiến hành hòa giải theo quy định của Luật tố tụng dân sự. Khác với hòa giải tại tòa án, hòa giải tại tòa án là thủ tục bắt buộc phải tiến hành trước khi giải quyết thủ tục ly hôn. Ngoại lệ:
Mặc dù thủ tục hòa giải trước Tòa án là bắt buộc nhưng theo quy định tại Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì Tòa án không thể tiến hành hòa giải trong 04 trường hợp sau:
Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai mà vẫn tự nguyện vắng mặt;
Các bên bị thiệt hại không thể tham gia hòa giải vì lý do chính đáng;
Vợ, chồng mất năng lực hành vi dân sự đương sự khi ly hôn;
Một trong các bên đề nghị không tiến hành hòa giải.
Như vậy, trong quá trình giải quyết đơn ly hôn, vợ chồng sẽ được tạo điều kiện để thực hiện hành vi đốt phá ít nhất hai lần: một lần tại cơ sở và một lần tại tòa án. Có thể thấy, Nhà nước không khuyến khích ly hôn mà tạo điều kiện, cơ hội cho các cặp vợ chồng yêu cầu ly hôn được hòa giải tranh chấp giữa họ trước khi giải quyết thủ tục ly hôn. .
Nội dung bài viết:
Bình luận