Nhắn tin đe dọa liên quan đến việc sử dụng các phương tiện liên lạc như điện thoại và máy tính để gửi tin nhắn đe dọa cho người khác. Người thực hiện hành vi này sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý như trách nhiệm hành chính, trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, không phải trường hợp nhắn tin đe dọa nào cũng phải chịu trách nhiệm hình sự. Theo đó, SMS đe dọa người khác được chia thành 2 trường hợp như sau:
1. Trường hợp 1: Nhắn tin đe dọa, dọa giết nạn nhân hoặc người thân thích của nạn nhân
Trong trường hợp này, người thực hiện hành vi có thể bị truy cứu về tội đe dọa chết người theo quy định tại Điều 133 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (BLHS) khi có đủ các dấu hiệu sau: Vi phạm cấu thành như sau:
- Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội đe dọa chết theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 (BLHS) là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo quy định của pháp luật:
“Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự
- Người đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm có quy định khác trong Bộ luật này.
- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này.
Như vậy, theo quy định trên thì đối với tội đe dọa chết người thì cá nhân từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự khi phạm tội. 2. Đối tượng của tội phạm
Khách thể của tội đe dọa chết là tính mạng con người và quyền được sống. Mặc dù kẻ tấn công không có ý định giết người khi đe dọa nhưng việc làm cho người bị đe dọa sợ hãi và tin rằng mình sẽ bị giết cũng bị coi là vi phạm quyền sống của mình. 3. Mặt khách quan của tội phạm
Hành vi khách quan của tội đe dọa giết người là hành vi làm cho người bị đe dọa phải khiếp sợ bằng nhiều cách thức, thủ đoạn, thủ đoạn khác nhau như lời nói, hành động, ánh mắt,... là có mục đích của người đó. làm cho người bị đe dọa tin và sợ rằng mình có thể bị giết mà không phạm tội giết người. Hành vi đe dọa của người xâm phạm phải làm cho người bị đe dọa tin rằng hành vi đe dọa sẽ được thực hiện nếu người bị đe dọa không tuân theo ý chí của người xâm phạm. Đó là một đặc điểm đặc trưng của loại tội phạm này. Chính vì mục đích làm cho người bị đe dọa tin rằng kẻ xâm hại sẽ thực hiện hành vi giết người nên thủ phạm cố ý để người bị đe dọa nhìn thấy hoặc người khác thấy nên kẻ phạm tội biết người này sẽ nói với người bị đe dọa rằng mình thực hiện hành vi nào đó để chuẩn bị cho việc giết người như tìm công cụ, phương tiện để giết người.
Nhắn tin đe doạ người khác phạm tội gì
Nếu người phạm tội có hành vi đe dọa nhưng hành vi đó chỉ là phương thức thực hiện tội phạm khác, nhằm mục đích khác thì không phải là tội đe dọa chết. Đối với tội này, người bị đe dọa có thể sợ bị giết và cũng có thể sợ người thân của mình bị giết với điều kiện họ tin rằng hành vi đe dọa của người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, chỉ cần một người phạm tội và hành vi của họ đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự chứ không bắt buộc phải có hậu quả. 4. Mặt chủ quan của tội phạm
Tội đe dọa giết người được thực hiện do cố ý, tức là người phạm tội biết hành vi đe dọa giết người là trái pháp luật mà vẫn thực hiện, đồng thời mong muốn người bị đe dọa sợ hãi và Tôi tin rằng tôi có thể bị giết. Vì vậy, tội phạm này được thực hiện do cố ý trực tiếp.
2. Trường hợp 2: Tin nhắn văn bản đe dọa chỉ chứa những lời đe dọa thông thường để ép buộc người đó tuân theo yêu cầu của họ
Trong trường hợp này, người nhắn tin đe dọa không nhằm mục đích đe dọa giết người sẽ bị xử lý hành chính theo quy định tại điểm g khoản 3 Điều 66 Nghị định 174/2013/NĐ-CP:
“3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
… g) Cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín, danh dự, nhân phẩm, uy tín của tổ chức;
Như vậy, tùy từng hành vi, nội dung tin nhắn mà người có hành vi nhắn tin đe dọa người khác phải chịu trách nhiệm tương ứng theo quy định nêu trên.
Nội dung bài viết:
Bình luận