nhân thân người phạm tội
1. Khái niệm về nhân thân người phạm tội
Về mặt ngôn ngữ, khái niệm nhân thân người phạm tội được hình thành từ khái niệm “nhân cách” và khái niệm “người phạm tội”. Như vậy, khái niệm nhân thân người phạm tội được hiểu là nhân thân của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội và bị luật hình sự coi là tội phạm. Vì vậy, khi xem xét khái niệm nhân thân người phạm tội phải bắt đầu từ khái niệm nhân thân.
Bản chất con người bao gồm các mặt sinh học, tâm lý và xã hội. Con người muốn tồn tại đòi hỏi phải có một quá trình hoạt động phục vụ cuộc sống của chính mình như ăn, uống, nghỉ ngơi... Đồng thời trong bất kỳ xã hội nào. Con người không bao giờ sống tách biệt, tách rời nhau mà luôn có mối quan hệ với nhau trong quá trình sản xuất cũng như trong quá trình hoạt động khác. Con người vẫn tồn tại trong các mối quan hệ kinh tế, chính trị, tư tưởng, luật pháp, giáo dục, văn hóa và các mối quan hệ khác.
Con người có quan hệ không chỉ với người cùng thời mà còn với các thế hệ trước, biểu hiện là sự kế thừa lực lượng sản xuất và di sản văn hóa do các thế hệ trước tích lũy. Nói cách khác, lịch sử phát triển của mỗi cá nhân không thể tách rời lịch sử của những người đương thời và lịch sử của những người đi trước họ. Như vậy, đời sống sinh hoạt và kinh nghiệm sống của một cá nhân bị chi phối bởi nội dung của các quan hệ xã hội cụ thể được hình thành trong gia đình; môi trường, bạn bè, trong tập thể làm việc, học tập... Tất cả những yếu tố đó đều có ảnh hưởng đến quá trình hình thành nhân cách con người. Trong quá trình đánh giá nhân thân của một người cần chú ý đến các đặc điểm sinh học và tâm lý. Con người cũng là sản phẩm của xã hội, vì vậy khi đánh giá con người không được bỏ qua những hiện tượng tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách. Các mối quan hệ xã hội và các đặc điểm sinh học, tâm lý luôn gắn liền với nhau và tác động qua lại. Con người sinh ra là một cơ thể sinh học, trong quá trình sống, khi tham gia vào hoạt động thực tiễn của xã hội, con người đã trở thành những cá nhân có nhân cách nhất định. Hành vi của con người trong xã hội là biểu hiện của ý thức xã hội, không phải do tác động của bản năng sinh vật. Vì vậy, trong khi nghiên cứu bản sắc con người, chúng ta phải tránh quan niệm tâm lý về bản sắc, cho rằng bản sắc là một tập hợp các đặc điểm tâm lý và không liên quan gì đến địa vị, chức năng và vai trò xã hội. Ngược lại, chúng ta không được tuyệt đối hóa các chức năng, vai trò xã hội mà bỏ qua các đặc điểm sinh học, tâm lý của con người. Khái niệm bản sắc con người là một khái niệm bao gồm tất cả các đặc điểm sinh học, tâm lý và xã hội của một cá nhân. Nhân cách con người là tổng hòa các đặc điểm thuộc 3 nhóm sau:
- Đặc điểm sinh học, bao gồm giới tính, tuổi tác và một số đặc điểm thể chất khác.
- Đặc điểm tâm lý, bao gồm những đặc điểm tâm lý của cá nhân thuộc nhân cách. Đây là những thuộc tính tâm lý của một cá nhân thể hiện trong bản sắc và giá trị xã hội của họ, chẳng hạn như khuynh hướng, khả năng và tính cách. Thuộc về xu hướng có thể là đặc điểm của nhu cầu, khuynh hướng, lý tưởng hoặc thế giới quan. Năng lực là những đặc điểm của năng lực chung, năng lực riêng hoặc những đặc điểm về mức độ biểu hiện của năng lực trong nhân cách, thiên hướng hoặc năng khiếu. Nhân cách là những đặc điểm của hệ thống thái độ của cá nhân đối với xã hội, tập thể, đối với công việc, đối với mỗi người, đối với bản thân và những đặc điểm của hệ thống hành vi, cử chỉ của cá nhân. Tính khí có thể là những đặc điểm như tính khí tràn đầy năng lượng, điềm tĩnh, nóng nảy hoặc lo lắng. Khí chất được coi là một thuộc tính tâm lý gắn liền với khuôn mẫu hoạt động tinh thần tương đối ổn định của cá nhân. - Đặc điểm xã hội, bao gồm những đặc điểm phản ánh vị trí xã hội của cá nhân cũng như những đặc điểm phản ánh quá trình xã hội hóa của cá nhân. Đó là các đặc điểm của gia đình mà cá nhân xuất thân, hộ tịch, hoàn cảnh gia đình của cá nhân, đặc điểm của công việc, nghề nghiệp, địa vị xã hội... Các đặc điểm của quá trình xã hội hóa cá nhân như đặc điểm của giáo dục gia đình, đặc điểm của quá trình học tập ở trường và trong học nghề hoặc đào tạo khác, đặc điểm của bạn bè, đồng nghiệp...
Tội phạm học nghiên cứu những người phạm tội chứ không phải con người nói chung. Người phạm tội là người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được luật hình sự quy định là tội phạm. Thời điểm một người bị coi là có tội được tính từ thời điểm Tòa án tuyên án cho đến khi được xóa án tích. Tội phạm là kết quả của sự tác động qua lại rất phức tạp của nhiều yếu tố, trong đó đặc điểm nhận dạng có vai trò quan trọng. Những đặc điểm nhân thân của người phạm tội là kết quả của những điều kiện sống, sự giáo dục, những mối quan hệ và tác động qua lại nhất định giữa môi trường xã hội với người phạm tội.
Tóm lại, nhân thân người phạm tội là tổng hợp những đặc điểm sinh học, tâm lý, xã hội của người phạm tội và những đặc điểm này kết hợp với hoàn cảnh, hoàn cảnh khách quan bên ngoài đã dẫn đến cái chết của người phạm tội.
Để hiểu rõ hơn về khái niệm nhân thân của tác giả tội phạm, cần phân biệt khái niệm này với khái niệm chủ thể của tội phạm. Khách thể của tội phạm là một khái niệm pháp lý hình sự, là một trong các yếu tố cấu thành tội phạm. Chỉ người có năng lực trách nhiệm hình sự và đã đến một độ tuổi nhất định vào thời điểm thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mới phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội trái pháp luật của mình.
Khái niệm nhân thân của tác giả phạm tội bao gồm tất cả các dấu hiệu mà luật hình sự quy định về khách thể của tội phạm nói chung như độ tuổi, năng lực trách nhiệm hình sự và các dấu hiệu của một chủ thể cụ thể như quốc tịch, giới tính, chức vụ,… Tuy nhiên, trong khái niệm về nhân thân người phạm tội, các dấu hiệu này được trình bày một cách bao quát và chi tiết hơn.
Ví dụ: Dấu hiệu về chủ thể của tội phạm chỉ là dấu hiệu về lý trí, ý chí, là cơ sở để xác định trách nhiệm hình sự và năng lực lỗi; còn những đặc điểm nhân thân của người phạm tội không chỉ bao gồm những dấu hiệu của lý trí, ý chí mà còn bao gồm cả nhu cầu, sở thích, thói quen, tình cảm và đạo đức. Ngoài ra, khái niệm về nhân thân người phạm tội còn thể hiện nhiều dấu hiệu, đặc điểm không thuộc các dấu hiệu pháp lý của chủ thể tội phạm.
Ví dụ, thái độ của phạm nhân đối với xã hội, bản thân hoặc năng khiếu, tính cách, thói quen và sở thích của chính mình.
Như vậy, tất cả các dấu hiệu pháp lý thuộc về chủ thể của tội phạm đều là một bộ phận cấu thành của khái niệm nhân thân người phạm tội, nhưng khái niệm nhân thân người phạm tội có nội dung rộng hơn so với khái niệm chủ thể của tội phạm.
Khái niệm nhân thân người phạm tội trong tội phạm học cũng khác với khái niệm nhân thân người phạm tội trong khoa học luật hình sự. Nhân thân người phạm tội trong khoa học luật hình sự được hiểu là tổng hợp những đặc điểm riêng biệt của người phạm tội, có ý nghĩa quan trọng đối với việc giải quyết đúng đắn trách nhiệm hình sự của người đó. Những đặc điểm phân biệt này có thể được chia thành ba nhóm cơ bản:
- Các đặc điểm nhân thân được quy định là dấu hiệu định tội như quốc tịch (điều 78 BLHS); đặc điểm của hệ thống gia đình (Điều 150 BLHS); ...
- Đặc điểm nhân thân được quy định là dấu hiệu định khung để cấu thành các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ tội như: Tái phạm nguy hiểm (điểm c khoản 2 Điều 138 BLHS); phạm tội nhiều lần (điểm a khoản 2 Điều 116 BLHS); ...
- Đặc điểm nhân thân được quy định là tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội, phạm tội có tính chất côn đồ (điểm b, điểm c, điểm d khoản 1 điều 48 Bộ luật Bộ luật Hình sự); phụ nữ có thai, phạm tội là người cao tuổi (điểm h, điểm k, điểm 1, điểm m khoản 1 Điều 46 BLHS); ...
2. Ý nghĩa của việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội
Tuy cùng là nghiên cứu về nhân cách tội phạm nhưng mỗi ngành khoa học có mục tiêu, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu riêng. Khoa học luật hình sự nghiên cứu người phạm tội với tư cách là chủ thể của tội phạm và người phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm đó. Đặc điểm nhân thân của người phạm tội được nghiên cứu ở đây xuất phát từ yêu cầu phải xác định, đánh giá hành vi phạm tội, trách nhiệm hình sự và quyết định các biện pháp hình sự để xử lý người phạm tội theo quy định của pháp luật. Tâm lý học pháp y và tâm thần học cũng coi việc nghiên cứu người phạm tội là vấn đề trung tâm, nhưng nhằm xác định năng lực trách nhiệm hình sự và điều trị những người phạm tội mắc bệnh tâm thần, tâm thần. Trong khi đó, tội phạm học nghiên cứu về người phạm tội hoặc nhân thân người phạm tội với mục đích xác định nguyên nhân của tội phạm, không chỉ bao gồm nguyên nhân từ phía người phạm tội mà còn cả nguyên nhân từ phía xã hội. Nhân cách người phạm tội với tập hợp các đặc điểm có tác động đến hành vi phạm tội và cũng là kết quả của sự tác động qua lại giữa người phạm tội với môi trường xã hội của anh ta. Việc truy tìm nhân thân người phạm tội trong tội phạm học có thể xác định những đặc điểm nhân thân nào của người phạm tội có tác động làm tăng nguy cơ phạm tội ở người phạm tội, còn gọi là đặc điểm tiêu cực hay đặc điểm nguy cơ phạm tội. Những đặc điểm này có thể là những nét riêng của bản thân người phạm tội như những nét nhân cách sinh học, tâm lý tiêu cực hoặc những đặc điểm xã hội là kết quả hoặc sự phản ánh ảnh hưởng của người phạm tội đến các yếu tố tiêu cực trong môi trường xã hội đối với người phạm tội. Như vậy, trên cơ sở nghiên cứu về nhân thân người phạm tội trong tội phạm học, có thể xác định được các yếu tố nguy cơ từ phía người phạm tội và các yếu tố tác động tiêu cực của môi trường xã hội trong tác động của tội phạm cùng nhau tạo thành nguyên nhân của tội phạm. tội phạm.
Trên cơ sở nghiên cứu nhân thân người phạm tội, có thể xây dựng các biện pháp phòng ngừa tội phạm bằng cách hạn chế hoặc loại bỏ các yếu tố tác động đến việc hình thành các đặc điểm tiêu cực của cá nhân. Đây chủ yếu là những biện pháp tác động vào môi trường xã hội có tính chất phòng ngừa chung và ngăn chặn nguy cơ phạm tội, bởi xét cho cùng, phần lớn những đặc điểm nhân thân của con người nói chung và người phạm tội nói chung đều chịu tác động của môi trường xã hội.
Nội dung bài viết:
Bình luận