Quy định pháp luật về việc lựa chọn ngôn ngữ trong hợp đồng dịch vụ

Hợp đồng có vai trò rất quan trọng đối trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay. Nó tạo hành lang pháp lý an toàn cho các chủ thể tham gia hợp đồng; là cơ sở để giải quyết các tranh chấp xảy ra; đảm bảo cho việc kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; đảm bảo sự ổn định các quan hệ sở hữu tài sản. Như vậy, bất kỳ lĩnh vực nào cũng cần thiết có sự xuất hiện của hợp đồng. Bài viết dưới đây cung cấp cho quý bạn đọc thông tin về Quy định pháp luật về việc lựa chọn ngôn ngữ trong hợp đồng dịch vụ.

Commercial Law
Quy định pháp luật về việc lựa chọn ngôn ngữ trong hợp đồng dịch vụ

1. Hợp đồng dịch vụ là gì?

Theo Điều 513 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về hợp đồng dịch vụ như sau:

“Điều 513. Hợp đồng dịch vụ
Hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ, bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ.”Tại Điều 514 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về đối tượng của hợp đồng dịch vụ như sau:

“Điều 514. Đối tượng của hợp đồng dịch vụ
Đối tượng của hợp đồng dịch vụ là công việc có thể thực hiện được, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.”Theo đó, hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ, bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ.

2. Nguyên tắc chung về việc lựa chọn ngôn ngữ trong hợp đồng dịch vụ

Các bên có thể tự do thỏa thuận ngôn ngữ hợp đồng Hiện nay hai luật quan trọng và đang trực tiếp nhất điều chỉnh về hợp đồng là luật thương mại 2005 và Bộ luật dân sự 2015. Trong hai luật này, không thấy có quy định nào quy định về ngôn ngữ hợp đồng hoặc yêu cầu hợp đồng, giao dịch phải bằng tiếng Việt. Như vậy theo nguyên tắc trong dân sự “các bên được làm những gì pháp luật không cấm” và tự do thỏa thuận trong thương mại thì trong các hợp đồng nói chung, các bên được tự do lựa chọn ngôn ngữ ký kết và diễn đạt thỏa thuận. Điều này được khẳng định trong một số luật khác, ví dụ khoản 2 điều 22 luật chuyển giao công nghệ 2017 quy định“Ngôn ngữ trong hợp đồng chuyển giao công nghệ do các bên thỏa thuận”. Nghĩa rằng các bên có thể không cần phải có bản hợp đồng tiếng Việt, hợp đồng bằng ngôn ngữ khác vẫn có giá trị ràng buộc giữa các bên.

3. Một số ngoại lệ các bên phải tuân theo về lựa chọn ngôn ngữ trong hợp đồng dịch vụ

Tuy nhiên, trong một số lĩnh vực riêng biệt, một số luật chuyên ngành lại có quy định ràng buộc về vấn đề tiếng Việt. Trong những trường hợp đặc thù này, các bên cần tuân theo quy định cụ thể của luật chuyên ngành.

Ví dụ: - Ngôn ngữ sử dụng trong hợp đồng giao kết với người tiêu dùng là tiếng Việt, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”. (khoản 2 điều 14 Luật bảo vệ người tiêu dùng) 2010

- Hợp đồng cung ứng và sử dụng dịch vụ bưu chính bằng văn bản phải được lập bằng tiếng Việt; nếu các bên có thỏa thuận sử dụng thêm ngôn ngữ khác thì văn bản bằng tiếng Việt và văn bản bằng ngôn ngữ khác có giá trị pháp lý như nhau.(khoản 2 điều 9 Luật Bưu chính 2010).

- Ngôn ngữ sử dụng trong hợp đồng xây dựng là tiếng Việt. Đối với hợp đồng xây dựng có yếu tố nước ngoài thì ngôn ngữ sử dụng là tiếng Việt và tiếng nước ngoài do các bên thỏa thuận lựa chọn; trường hợp không thỏa thuận được thì sử dụng tiếng Anh (luật xây dựng 2014, NĐ 37/2015NĐ-CP về hợp đồng xây dựng).

- Hợp đồng bắt buộc phải công chứng: Hiện nay một số hợp đồng bắt buộc phải được công chứng (ví dụ chuyển nhượng, thế chấp, góp vốn nhà, đất của cá nhân, hộ gia đình). Theo quy định của luật công chứng 2014 thì tiếng nói và chữ viết trong công chứng phải bằng tiếng Việt. Do đó các bên phải có hợp đồng bằng tiếng Việt để được công chứng hợp đồng.

4. Giá trị pháp lý của bản tiếng Việt và ngôn ngữ khác

Trong trường hợp có sự mâu thuẫn về nội dung gì đó giữa bản tiếng Việt và tiềng Anh thì sẽ áp dụng theo quy định trong hợp đồng hoặc thỏa thuận sau đó của các bên. Trong trường hợp các bên không quy định thì hai bản có giá trị pháp lý như nhau. Điều này phủ nhận nhận định của một số người cho rằng bản tiếng Việt có giá trị pháp lý cao hơn. Bởi lẽ cả hai bản đều do hai bên ký. Trong trường hợp này thì cơ quan xét xử sẽ dùng tất cả tài liệu và hỏi, xem xét để tìm ra ý chí thực sự của các bên về nội dung đó. Do đó qua phân tích của luật sư Đỗ Thanh Lâm cho thấy khi các bên ký kết hợp đồng thì nếu hợp đồng đã ký kết đảm bảo các yếu tố của một hợp đồng (chủ thể, đối tượng, nội dung, hình thức của hợp đồng) thì cho dù được diễn đạt bằng ngôn ngữ nước ngoài thì các bên vẫn phải chịu trách nhiệm về những nội dung mình ký, trừ trường hợp chứng minh được mình bị lừa dối, ép buộc, hay nhầm lẫn. Đây cũng là câu chuyện và kinh nghiệm trong việc các bên trong quan hệ thương mại cần coi trọng sự chặt chẽ về pháp lý và sự tư vấn của luật sư trong kinh doanh và ký kết giao dịch.

Trên đây là nội dung Quy định pháp luật về việc lựa chọn ngôn ngữ trong hợp đồng dịch vụ. Cảm ơn quý bạn đọc đã quan tâm và theo dõi bài viết của chúng tôi. Mong rằng bài viết sẽ cung cấp cho quý độc giả những thông tin hữu ích về nội dung này. Nếu có thắc mắc hay cần tư vấn, quý bạn đọc vui lòng liên hệ với công ty luật ACC để chúng tôi có thể giải đáp và tư vấn cho quý bạn đọc một cách nhanh chóng và thuận tiện nhất.

Nội dung bài viết:

    Hãy để lại thông tin để được tư vấn

    comment-blank-solid Bình luận

    084.696.7979 19003330 Báo giá Chat Zalo