Nghị quyết số 11-NQ/TU của Tỉnh ủy tỉnh Quảng Nam

Nghị quyết số 11-NQ/TU của Tỉnh ủy tỉnh Quảng Nam nêu lên các nhiệm vụ và giải pháp bao gồm: bảo tồn và phát triển văn hóa mang bản sắc gắn với phát triển kinh tế – xã hội; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, văn minh; xây dựng con người phát triển toàn diện đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững; tập trung huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nhà nước và xã hội, phát triển văn hóa, con người đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững; tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ qốc và các tổ chức chính trị – xã hội.  Bài viết dưới đây của ACC về Nghị quyết số 11-NQ/TU của Tỉnh ủy tỉnh Quảng Nam hi vọng đem lại nhiều thông tin chi tiết và cụ thể đến Quý bạn đọc.

Chủ tịch Quốc hội làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Quảng Nam

TỈNH UỶ QUẢNG NAM

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM 
Số: 11-NQ/TU Tam Kỳ, ngày 25 tháng 4 năm 2017 

  

NGHỊ QUYẾT

HỘI NGHỊ TỈNH UỶ LẦN THỨ BẢY, KHOÁ XXI

Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo tỉnh Quảng Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2025

 Trong những năm qua, sự nghiệp giáo dục – đào tạo của tỉnh Quảng Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng và khá toàn diện, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Hệ thống giáo dục mầm non, phổ thông, đại học, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên được quy hoạch, đầu tư, phát triển tương đối hợp lý, cơ bản đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực của tỉnh và nhu cầu học tập của nhân dân. Chất lượng giáo dục và đào tạo được nâng lên, chất lượng mũi nhọn có tiến bộ; giáo dục miền núi được đầu tư phát triển. Tỷ lệ trường chuẩn quốc gia tăng nhanh, đạt kết quả cao. Công tác đào tạo nghề được quan tâm chỉ đạo thực hiện đạt kết quả bước đầu; công tác xây dựng xã hội học tập, xã hội hoá giáo dục, khuyến học, khuyến tài đạt nhiều kết quả. Nhiều cấp uỷ, chính quyền địa phương thực hiện tốt các chương trình, đề án phát triển giáo dục và đạo tạo. Chi ngân sách cho sự nghiệp giáo dục – đào tạo của tỉnh đạt mức 20% tổng chi ngân sách địa phương.

Tuy nhiên, chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo vẫn còn thấp so với yêu cầu phát triển nguồn nhân lực của tỉnh, không đồng đều giữa các loại hình đào tạo, giữa khu vực miền núi và đồng bằng, chưa đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động. Tỷ lệ học sinh trung học phổ thông (THPT), trung học cơ sở (THCS) bỏ học giữa chừng còn ở mức cao. Tỷ lệ phân luồng học sinh sau khi tốt nghiệp THCS vào học tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, tỷ lệ trường chuẩn quốc gia ở các huyện miền núi, tỷ lệ trường chuẩn quốc gia mức độ 2 ở các huyện đồng bằng còn thấp. Một bộ phận nhà giáo chưa theo kịp với yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo. Số lượng học sinh, sinh viên ra trường chưa tìm được việc làm theo ngành nghề đào tạo ngày càng tăng, gây lãng phí xã hội. Hầu hết chất lượng hoạt động của trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên ở huyện, thị xã, thành phố còn hạn chế. Nhiều trung tâm học tập cộng đồng xã, phường, thị trấn hoạt động kém hiệu quả.

Nguyên nhân chủ yếu của hạn chế, yếu kém nêu trên là do một số cấp uỷ, chính quyền, cơ quan, đơn vị chưa tập trung đúng mức cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo phát triển sự nghiệp giáo dục – đào tạo. Công tác quản lý nhà nước về giáo dục – đào tạo còn một số bất cập. Cơ chế, chính sách chưa đủ mạnh để thu hút đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo. Tư tưởng nặng bằng cấp, bệnh thành tích, bao cấp về giáo dục còn khá phổ biến. Một bộ phận nhà giáo còn hạn chế về kiến thức và năng lực nhưng thiếu ý  chí phấn đấu vươn lên. Chế độ, chính sách đối với nhà giáo, cán bộ, nhân viên ngành giáo dục  - đào tạo còn chưa phù hợp. Nhu cầu về vốn trong đầu tư, phát triển giáo dục và đào tạo rất lớn, trong khi nguồn vốn ngân sách có hạn và công tác xã hội hoá, huy động nguồn lực xã hội để bổ sung thực hiện nhiệm vụ giáo dục, đào tạo ở nhiều địa phương, đơn vị còn hạn chế, khó khăn.

I-   QUAN ĐIỂM VÀ MỤC TIÊU

1- Quan điểm

  • Phát triển giáo dục là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển bền vững và được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội.
  • Quán triệt và thực hiện nghiêm túc chủ trưởng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo chỉ đạo của Trung ương và Chính Phủ. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất của người học. Đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục và đào tạo, việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới wor tất cả các bậc học, ngành học theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá; bảo đảm thực học, thực nghiệp; coi trọng tự học và giáo dục từ xa.
  • Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc; chủ động, tích vực nắm bắt cơ hội, vượt qua thách thức của Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0) đang và sẽ tác động nhanh chóng, mạnh mẽ đến nước ta. Phát triển hài hoà, hỗ trợ giữa giáo dục công lập và ngoài công lập; ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục – đào tạo miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới, ven biển, hải đảo và các đối tượng chính sách, xã hội. Thực hiện dân chủ hoá, xã hội hoá trong giáo dục và đào tạo.

2-   Mục tiêu

2.1- Mục tiêu tổng quát

Xây dựng, phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo của tỉnh theo hướng nền giáo dục mở, có đủ các điều kiện để nâng cao chất lượng, bảo đảm dạy tốt, học tốt, quản lý tốt, thực học, thực nghiệp gắn với khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập để đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực của tỉnh theo thị trường lao động và nhu cầu học tập của nhân dân trong bối cảnh Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0) đang diễn ra nhanh chóng, mạnh mẽ.

2.2- Mục tiêu cụ thể

Đến năm 2020

  • Giáo dục mầm non

+ Củng cố, nâng cao chất lượng kết quả phổ cập mầm non cho trẻ 5 tuổi. Có ít nhất 25% trẻ dưới 3 tuổi đến nhà trẻ; 80% trẻ 3 tuổi, 4 tuổi và 100% trẻ 5 tuổi được chăm sóc tại các cơ sở giáo dục mầm non. Giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng ở thể nhẹ cân và thấp còi trong các cơ sở giáo dục mầm non xuống dưới 10% 

+ 60% trưởng mầm non công lập đạt chuẩn quốc gia; trong đó, 10% đạt chuẩn mức độ 2.

  • Giáo dục phổ thông

 + 100% trẻ 6 tuổi vào lớp 1; 100% học sinh tiểu học học 2 buổi/ngày; 100% học sinh lớp 3 được học Tiếng Anh; 100% học sinh hoàn thành chương trình tiểu học vào lớp 6. Có 90% trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia; trong đó có 40% đạt mức độ 2.

+ 40% học sinh THCS học 2 buổi/ngày; 65% trường THCS đạt chuẩn quốc gia.

+ Thực hiện tuyển sinh vào lớp 10 theo tỷ lệ và lộ trình phù hợp, phấn đấu có ít nhất 20% học sinh sau khi tốt nghiệp THCS vào học tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp; có 80% thanh niên trong độ tuổi đạt trình độ giáo dục THPT và tương đương.

+ 40% trường THPT đạt chuẩn quốc gia.

+ 30% giáo viên là người dân tộc thiểu số trong đội ngũ giáo viên các trường phổ thông dân tộc nội trú và phổ thông dân tộc bán trú của tỉnh.

+ 80% người khuyết tật được học hoà nhập ở tất cả các cấp bậc học và trình độ đào tạo.

- Giáo dục nghề nghiệp

+ Nâng cao chất lượng các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu thị trường lao động, tăng mạnh tuyển sinh giáo dục nghề nghiệp trình độ cao đẳng, trung cấp; phấn đấu đến năm 2020, quy mô tuyển sinh đào tạo cao đẳng, trung cấp của tỉnh đạt 10.000 người/năm; tăng tỷ lệ lao động có việc làm sau đào tạo.

+ Đào tạo nghề cho lao động nông thôn, đào tạo lao động cho các chương trình, dự án trọng điểm và các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh khoảng 50.000 người.

- Giáo dục đại học

+ Tỷ lệ cán bộ và giảng viên của Trường Đại học Quảng Nam có trình độ sau đại học (thạc sĩ, tiến sĩ) đáp ứng yêu cầu đào tạo và nghiên cứu với quy mô trên 7.000 học sinh, sinh viên; đạt chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học ngang bằng với mức bình quân các cơ sở giáo dục đại học của các tỉnh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.

- Giáo dục thường xuyên

+ Bảo đảm cơ hội học tập thường xuyên, suốt đời cho mọi người dân để nâng cao kiến thức, trình độ, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ và chất lượng cuộc sống; tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động chuyển đổi nghề; bảo đảm xoá mù chữ bền vững.

+ Kiện toàn, phát triển tổ chức khuyến học ở hầu hết các cơ quan, đơn vị và đa số tổ đoàn kết, cơ sở tôn giáo. Tăng số hội viên khuyến học lên 17% tổng dân số tỉnh. Trung bình hằng năm, tăng nguồn quỹ huy động được trên 10% và tăng số lượt học sinh, sinh viên được nhận học bổng, khen thưởng và hỗ trợ trên 7%.

- Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 65%; trong đó, tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 3 tháng trở lên có bằng, chứng chỉ công nhận kết quả đạt 25%.

Đến năm 2025: Phấn đấu giữ vững và tiếp tục nâng cao chất lượng các chỉ tiêu đến năm 2020 đã đạt được.

- Giáo dục mầm non

70% trường mầm non đạt chuẩn quốc gia; trong đó, 20% đạt chuẩn mức độ 2. Có ít nhất 30% trẻ dưới 3 tuổi đến nhà trẻ, 85% trẻ 3 tuổi, 4 tuổi và 100% trẻ 5 tuổi được chăm sóc, giáo dục tại các cơ sở giáo dục mầm non.

- Giáo dục phổ thông

+ 95% trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia; trong đó, có 50% đạt mức độ 2.

+ 80% trường THCS đạt chuẩn quốc gia; 40% học sinh THCS học 2 buổi/ngày.

+ Tỷ lệ học sinh sau khi tốt nghiệp THCS vào học tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đạt 30%.

  • 60% trường THPT đạt chuẩn quốc gi
  • Giáo dục nghề nghiệp

Nâng cao chất lượng đào tạo của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, đáp ứng nhu cầu xã hội và hội nhập quốc tế trước sự tác động mạnh mẽ của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0); tăng tỷ lệ sinh viên, học sinh có việc làm sau đào tạo.

- Giáo dục đại học
Trường đại học Quảng Nam thực hiện tự chủ hoàn toàn về tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính; đào tạo sau đại học theo nhu cầu thị trường; chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học ngang bằng với mức bình quân các trường đại học trong khu vực miền Trung – Tây Nguyên.

- Giáo dục thường xuyên
+ Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các trung tâm giáo dục thường xuyên, học tập cộng đồng trên địa bàn tỉnh. Phát triển mạnh phong trào học tập thường xuyên, suốt đời tại các cơ quan, đơn vị, địa phương và các khu dân cư. 

+ Mở rộng, nâng cao chất lượng, hiệu quả của hệ thống hội khuyến học các cấp, tích cực góp phần khuyến khích, hỗ trợ phát triển giáo dục và đào tạo của địa phương.

- Tỉ lệ lao động qua đào tạo đạt 75%; trong đó, tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 3 tháng trở lên có bằng, chứng chỉ công nhận kết quả đạt 35%.

II- NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP
1- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước về đổi mới giáo dục và đào tạo 

Tiếp tục quán triệt để nhận thức đầy đủ, sâu sắc các quan điểm đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong cán bộ, đảng viên, nhà giáo và nhân dân. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giám sát, phản biện, tạo sự đồng thuận và huy động các lực lượng xã hội tham gia công cuộc đổi mới, phát triển giáo dục và đào tạo. Chú trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng trong các cơ sở giáo dục – đào tạo. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, vai trò cấp uỷ, chính quyền, liên quan, người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết dứt điểm những yếu kém, bất cập trong giáo dục và đào tạo.

Thực hiện chủ trương hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập. Rà soát, bổ sung quy hoạch phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội, phát triển nguồn nhân lực của tỉnh, với hội nhập quốc tế trước sự tác động nhanh chóng, mạnh mẽ của Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0). Xác định chỉ tiêu tuyển sinh THPT phù hợp, tăng chỉ tiêu tuyển sinh giáo dục nghề nghiệp; đẩy mạnh phân luồng học sinh sau khi tốt nghiệp THCS vào học tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Xây dựng, thực hiện chương trình định hướng nghề nghiệp cho học sinh THCS, THPT gắn với thị trường lao động, đặc biệt ở khu vực miền núi. Thực hiện tốt công tác thông tin, dự báo số lượng, chất lượng nguồn nhân lực có gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh; đẩy mạnh thực hiện cơ chế đặt hàng trong giáo dục và đào tạo.

2- Đổi mới công tác quản lý của ngành giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao
Đẩy mạnh việc phân cấp, giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các cơ sở giáo dục – đào tạo; nâng cao vai trò của các cơ quan quản lý giáo dục và đào tạo địa phương trong việc tham gia quyết định về quản lý nhân sự, tài chính để bảo đảm thực hiện tốt nhiệm vụ chuyên môn được giao. Các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn thực hiện đúng lộ trình tự chủ theo chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động thương binh và xã hội. Tập trung chỉ đạo, thực hiện tốt công tác kiểm định chất lượng giáo dục và đào tạo, chú trọng quản lý đầu ra. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và các thành tựu khoa học công nghệ hiện đại trong quản lý giáo dục – đào tạo. 

Chỉ đạo thực hiện đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan; nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác chỉ đạo, tổ chức các kỳ thi tuyển sinh, tốt nghiệp, thi học sinh giỏi, thi tuyển dụng viên chức giáo dục trên địa bàn tỉnh.

Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học. Chú trọng giáo dục lý tưởng, truyển thống, nhân cách, đạo đức, lối sống, thể chất, trí thức, pháp luật và ý thức công dân. Xây dựng và hoàn thiện chương trình giảng dạy văn hoá, lịch sử địa phương phù hợp trên địa bàn toàn tỉnh. Quan tâm dạy tiếng nói và chữ viết của các dân tộc thiểu số, dạy môn tiếng việt cho học sinh đồng bào dân tộc thiểu số. Thực hiện có chất lượng, hiệu quả chương trình dạy học ngoại ngữ, tin học cho học sinh, sinh viên, chương trình đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học cho nhà giáo, các chương trình dạy học ngoại ngữ, tin học trong nhân dân theo hướng chuẩn hoá, thiết thực. Thực hiện nghiêm việc công khai cam kết, giám sát mục tiêu, chuẩn đầu ra của từng bậc học, môn học, chương trình, ngành và chuyên ngành đào tạo. Tổ chức tốt các hoạt động đoàn, hội thanh niên, đội trong trường học.

Coi trọng năng lực, chất lượng, hiệu quả, sự chấp nhận của thị trường lao động đối với người học là tiêu chí quan trọng để đánh giá uy tín, chất lượng của cơ sở giáo dục đại học, nghề nghiệp; là căn cứ để định hướng phát triển các ngành nghề đào tạo và các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh. Gắn kết các cơ sở giáo dục nghề nghiệp với các doanh nghiệp; đầu tư nâng cap chất lượng các cơ sở giáo dục nghề nghiệp; củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ sở giáo dục thường xuyên.

III- TỔ CHỨC THỰC HIỆN

l- Các cấp uỷ, chính quyền, ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đoàn thể chính trị - xã hội tổ chức quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết đến toàn thể cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân để tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động. Các huyện, thị, thành uỷ, các cơ quan quản lý giáo dục – đào tạo, các cơ sở giáo dục – đào tạo xây dựng chương trình, kế hoạch hành động gắn với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị tại cơ quan, đơn vị, địa phương; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Nghị quyết này.

  • Đảng đoàn Hội đồng nhân dân tỉnh, Ban cán sự đảng Uỷ ban nhân dân tỉnh căn cứ mục tiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết và các chương trình, đề án của Chính Phủ về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, xây dựng chương trình, kế hoạch hành động, ban hành cơ chế, chính sách phù hợp; chỉ đạo các cấp, các ngành liên quan tổ chức thực hiện tốt Nghị quyết.
  • Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội các cấp có trách nhiệm tổ chức tuyên truyền, vận động và giám sát việc thực hiện Nghị quyết.
  • Giao Ban tuyên giáo tỉnh uỷ chủ trì, chỉ đạo các cơ quan thông tin truyền thông đẩy mạnh công tác tuyên truyên thực hiện Nghị quyết trên địa bàn toàn tỉnh; chủ trì, phối hợp với Sở GDĐT, Sở LĐTBXH, các cơ quan, đơn vị liên quan theo dõi, đôn đốc việc triển khai thực hiện Nghị quyết, định kỳ báo cáo Tỉnh uỳ, Ban Thường vụ tỉnh uỷ sơ kết, tổng kết việc thực hiện Nghị quyết.

Nghị quyết này thay thế Nghị quyết số 12-NQ/TU ngày 28/12/2012 của Tỉnh uỷ về phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo tỉnh Quảng Nam đến năm 2020; Chương trình số 28-Ctr/TU ngày 25/04/2014 của Tỉnh uỷ về thực hiện Nghị quyết 29-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương khoá XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế; Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 25/01/2007 của Tỉnh uỷ về phát triển nguồn nhân lực. 

Nghị quyết này được phổ biến đến các chi bộ.

Nơi nhận:

  • Ban Tuyên giáo TW (HN, ĐN),
  • Văn phòng Trung ương (HN, ĐN),
  • Bộ Giáo dục và Đào tạo,
  • Trung ương Hội Khuyến học Việt Nam,
  • TTTU, HĐND, UBND, UBMT TQVN tỉnh,
  • Các ban cán sự đảng, đảng đoàn,
  • Các ban đảng tỉnh uỷ,
  • VP: HĐND, UBND, Đoàn ĐBQH tỉnh,
  • Các sở, ban, ngành, đoàn thể CT-XH Tỉnh,
  • Các huyện, thị, thành uỷ, đảng uỷ trực thuộc,
  • Các đồng chí Tỉnh uỷ viên,
  • Luu Văn phòng Tỉnh uỷ.

Trên đây là bài viết mà chúng tôi cung cấp đến Quý bạn đọc về Nghị quyết số 11-NQ/TU của Tỉnh ủy tỉnh Quảng Nam. Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu, nếu như quý bạn đọc còn thắc mắc hay quan tâm đến Nghị quyết số 11-NQ/TU của Tỉnh ủy tỉnh Quảng Nam, quý bạn đọc vui lòng liên hệ với chúng tôi để được hướng dẫn và hỗ trợ pháp lý hoặc sử dụng các dịch vụ pháp lý khác từ ACC. ACC cam kết sẽ giúp bạn có trải nghiệm tốt nhất về các dịch vụ mà mình cung cấp đến khách hàng. Chúng tôi luôn đồng hành pháp lý cùng bạn.

Nội dung bài viết:

    Hãy để lại thông tin để được tư vấn

    comment-blank-solid Bình luận

    084.696.7979 19003330 Báo giá Chat Zalo