1. Doanh nghiệp không còn bắt buộc phải đăng ký bảng lương và phiếu lương
Theo quy định của Bộ luật Lao động 2019, từ ngày 01/01/2021, doanh nghiệp không còn phải đăng ký thang lương, bảng lương với cơ quan nhà nước.
Theo quy định tại Điều 93 Bộ luật Lao động 2019, khi xây dựng thang lương và hệ số lương, người sử dụng lao động chỉ phải: thành lập; công bố công khai tại nơi làm việc trước khi thực hiện.
Trong khi đó, trước đây, theo quy định tại Điều 2, Điều 93 Bộ luật Lao động 2012 và Điều 1 Nghị định 121/2018/NĐ-CP, người sử dụng lao động sử dụng từ 10 lao động trở lên phải đăng ký thang, bảng lương với cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp huyện nơi đặt cơ sở sản xuất, kinh doanh của người sử dụng lao động đồng thời thông báo nơi làm việc.
2. Không còn cần khoảng cách giữa hai bậc lương liền kề tối thiểu 5%
Từ ngày 01/01/2021, theo Bộ luật Lao động 2019, khoảng cách giữa hai bậc lương liền kề ít nhất là 5% không còn cần thiết (do đó, doanh nghiệp được quyền tự quyết định khoảng cách giữa các bậc lương). tình hình thực tế của công ty bạn).
3. Không nhất thiết phải cộng thêm ít nhất 7% đối với công việc phải đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ trong thang, bảng lương.
Từ ngày 1/7/2022, theo Nghị định 38/2022/NĐ-CP, không còn quy định tiền lương của NLĐ làm công việc cần qua đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ phải cao hơn ít nhất 7% so với mức lương của NLĐ khu vực. mức lương tối thiểu. Vì vậy, cần lưu ý những điều sau:
- Đối với công ty thành lập mới từ ngày 01 tháng 7 năm 2022, khi xây dựng lưới lương và lưới lương không phải cộng thêm tối thiểu 7% đối với công việc đã qua đào tạo, huấn luyện nghiệp vụ.
- Đối với công ty được thành lập trước ngày 01 tháng 7 năm 2022, nếu trước đó trong hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể hoặc các thỏa thuận khác có nội dung “người lao động đã qua học nghề, được trả lương cao hơn ít nhất 7% mức lương tối thiểu vùng thì công ty sẽ tiếp tục thực hiện (trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác). Điều 4. Áp dụng mức lương tối thiểu – Nghị định 38/2022/NĐ-CP
1. Mức lương tháng tối thiểu là mức lương thấp nhất làm cơ sở để thương lượng và trả lương cho người lao động thông qua việc áp dụng hình thức trả lương hàng tháng, bảo đảm mức lương theo vị trí hoặc chức danh của người lao động. làm đủ số giờ trong tháng và hoàn thành mức lao động hoặc công việc đã thỏa thuận không được thấp hơn mức lương tối thiểu tháng.
2. Mức lương tối thiểu theo giờ là mức lương thấp nhất làm căn cứ để thương lượng và trả lương cho người lao động áp dụng hình thức trả lương theo giờ, bảo đảm tiền lương theo vị trí, chức danh mà người lao động làm trong một giờ hoàn thành công việc hoặc theo thỏa thuận. tiêu chuẩn công việc không thấp hơn mức lương tối thiểu theo giờ. 3. Đối với người lao động áp dụng hình thức trả lương theo tuần, theo ngày hoặc theo sản phẩm, khoán thì tiền lương của các hình thức trả lương này nếu quy đổi theo tháng, theo giờ không được thấp hơn mức lương tối thiểu theo tháng hoặc theo giờ. . Tiền lương quy đổi theo tháng hoặc theo giờ trên cơ sở thời giờ làm việc bình thường do người sử dụng lao động lựa chọn theo quy định của pháp luật lao động như sau:
a) Tiền lương tháng quy đổi bằng tiền lương tuần nhân với 52 tuần chia cho 12 tháng; hoặc tiền lương ngày nhân với số ngày làm việc bình thường trong tháng; hoặc tiền lương theo sản phẩm là tiền lương được trả trong thời giờ làm việc bình thường của tháng.
b) Tiền lương giờ quy đổi bằng tiền lương tuần, lương ngày chia cho số giờ làm việc bình thường trong tuần, ngày; hoặc tiền lương theo sản phẩm, tiền lương cố định chia cho số giờ làm việc trong thời giờ làm việc bình thường để sản xuất ra sản phẩm hoặc thực hiện các công việc theo hợp đồng.
4. Không khống chế bậc lương trong thang, bảng lương
Tuỳ theo tình hình thực tế của công ty có thể xây dựng một hoặc nhiều bậc lương; các chức danh và vị trí công việc khác nhau.
Nội dung bài viết:
Bình luận