1.Xử lý thế nào khi vay tín chấp nhưng mất khả năng thanh toán?
Luật sư giải đáp thắc mắc của khách hàng về yêu cầu tư vấn khi vay tín chấp Ngân hàng nhưng đến khi mất khả năng thanh toán nghĩa vụ trả nợ thì luật sư phải chịu trách nhiệm pháp lý gì? 1. Luật sư tư vấn về hợp đồng vay tín chấp
Vay tín chấp là hình thức cho vay không cần tài sản đảm bảo, hoàn toàn dựa vào uy tín của cá nhân và doanh nghiệp đang hoạt động để trục lợi cá nhân, có thể là chi phí cho hôn nhân, du lịch, hay mua sắm tiêu dùng và khoản vay rất thuận lợi khi đáp ứng nhu cầu. nhu cầu. mọi nhu cầu của người vay.
Trong trường hợp bên vay mất khả năng thanh toán thì có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không? Bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội gì? Mức độ xử lý ra sao?
Nếu vướng mắc về hợp đồng vay tín dụng, bạn nên tham khảo các quy định pháp luật trong bộ luật dân sự, hình sự hoặc nhờ luật sư có chuyên môn tư vấn. Nếu bạn không có thời gian tìm hiểu hoặc không có luật sư riêng, vui lòng liên hệ Luật Minh Gia để được giải đáp và hướng dẫn cụ thể.
Để được hỗ trợ, tư vấn pháp luật về các vấn đề liên quan đến hợp đồng tín dụng, vui lòng gửi câu hỏi cho chúng tôi hoặc gọi đến 1900.6169 để được tư vấn. Ngoài ra, bạn có thể tham khảo các tình huống mà Luật Minh Gia tư vấn dưới đây để có thêm kiến thức pháp lý.
2. Vay tín chấp nhưng mất khả năng thanh toán có bị xử lý không?
Nội dung tư vấn như sau: Chào bạn! Vào năm 2013, người bạn của họ hàng tôi có một khoản vay Phần X không có bảo đảm với số tiền abc triệu. Nhưng rồi do công việc khó khăn, chồng bị bệnh tim cần tiền mổ gấp nên chị không thể lo được hoàn toàn. Theo cam kết ban đầu, mỗi tháng chú phải trả XYZ.đồng/tháng (tiền gốc). Tôi chỉ trả đúng 3 đợt. Năm 2016 có bên xử lý nợ liên hệ và bảo trả trước 1.000.000đ/tháng và cô ấy nói ngân hàng đồng ý. Tháng 2 và tháng 3/2018, do không có tiền đóng học phí cho con nên anh chỉ đóng được 500.000 đồng/tháng. Tháng 4 đóng thêm 1.000.000đ/tháng như cam kết ban đầu. Nhưng đầu tháng 5/2018, một công ty luật gọi điện nói xác minh trước khi khởi tố tội danh “Lạm dụng TÍN DỤNG LỪA ĐẢO LỪA ĐẢO TÀI SẢN NGÂN HÀNG”. Đến ngày 02/05/2018 người chú vẫn thực hiện đúng cam kết với ngân hàng là trả 1.000.000 đồng/tháng. Xin luật sư cho biết trường hợp của mình có bị khởi tố như công ty luật có giấy phép hoạt động của ngân hàng nói không? Cho em hỏi nếu em vẫn cố trả trong khả năng chi trả hiện tại thì có bị kiện không ạ? Tôi muốn cảm ơn bạn rất nhiều thưa ông!

mất khả năng thanh toán vay tín chấp
Trả lời: Cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, với trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:
Giữa bạn và ngân hàng phát sinh quan hệ dân sự là nghiệp vụ vay tiền có biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là không có bảo đảm. Khi tồn tại quan hệ vay tài sản thì bên vay có nghĩa vụ trả nợ trong thời hạn quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự 2015 như sau:
"Thứ nhất. Bên vay tiền phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, đúng chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
…
- Trường hợp cho vay có lãi mà đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:
a) Lãi trên nợ gốc theo mức lãi suất thoả thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay nhưng chưa trả; trong trường hợp chậm trả còn phải trả tiền lãi theo mức quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;
b) Lãi chậm trả gốc chưa trả bằng 150% lãi suất tiền vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Theo quy định trên, nếu đến thời điểm trả nợ mà bạn không thực hiện nghĩa vụ thì Ngân hàng có quyền khởi kiện ra tòa án nhân dân cấp huyện nơi bạn cư trú để giải quyết tranh chấp yêu cầu từ chối thực hiện. Nghĩa vụ. Tuy nhiên, do đây là quan hệ dân sự, thuận lợi cho sự thỏa thuận của các bên nên trước hết bạn phải liên hệ trực tiếp với Ngân hàng để thương lượng về tranh chấp này.
Liên quan đến vấn đề bác bạn thì có bị khởi tố về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như bên Công ty Luật được ủy quyền từ phía ngân hàng nói với bác hay không thì xem xét yếu tố phạm tội căn cứ theo quy định tại điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 về tội này. Cụ thể:
Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật hình sự, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
..... Như vậy, chỉ khi có các yếu tố cấu thành như quy định trên thì mới khởi tố bị can về tội tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Hiện nay chỉ do điều kiện tài chính khó khăn, không thể thực hiện nghĩa vụ trả nợ mà không có mục đích chiếm đoạt tài sản hoặc sử dụng số tiền có trước đó của khoản vay vào mục đích phù hợp thì chưa đủ cơ sở để hình thành nợ .
Nội dung bài viết:
Bình luận