Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được pháp luật thừa nhận. Với mục đích cao cả là giúp những cặp vợ chồng không thể sinh thường có được những đứa con như người bình thường. Vậy đẻ thuê nhân ái là gì? Bài viết dưới đây sẽ giải quyết vấn đề này

1. Quan niệm
Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là sinh con bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm. (theo quy định tại khoản 21 mục 3 Luật hôn nhân và gia đình 2014).
Mang thai hộ nhân đạo là việc người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai hộ cho cặp vợ chồng mà người vợ không có khả năng mang thai và sinh con mặc dù đã áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản để sinh sản, bằng cách lấy trứng của người phụ nữ và của người chồng. tinh trùng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con. (theo khoản 22 mục 3 luật hôn nhân và gia đình 2014)
2. Điều khoản
Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải đáp ứng một số điều kiện theo quy định tại Điều 95 Luật hôn nhân và gia đình 2014:
- Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải được thực hiện trên cơ sở tự nguyện của các bên và được lập thành văn bản. Tự do ý chí ở đây hoàn toàn xuất phát từ ý chí của cả hai bên: bên mang thai hộ và bên được mang thai hộ mà không bị bên thứ ba đe dọa, ép buộc, lừa dối. - Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo không được trái với quy định của pháp luật về hỗ trợ sinh sản.
Luật cũng quy định rõ điều kiện của mỗi bên trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
- a) Vợ, chồng đều có quyền nhờ người mang thai hộ khi có đủ các điều kiện sau đây:
- Phải là vợ chồng hợp pháp. Do đó, phụ nữ độc thân hay các cặp đồng tính nam, song tính và chuyển giới cũng không được phép nhờ mang thai hộ vì pháp luật chưa công nhận hôn nhân của họ là hợp pháp.
- Có giấy xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không có khả năng mang thai và sinh con ngay cả khi đã áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản: Theo quy định này, mang thai hộ là giải pháp cuối cùng để có thai và sinh con. Quy định này nhằm tránh tình trạng nhờ người khác mang thai hộ bừa bãi, hạn chế việc lợi dụng vì mục đích thương mại khi người phụ nữ còn khả năng làm mẹ.
- Vợ chồng chưa có con chung: trường hợp thai hư, thai chết lưu… vẫn tiếp tục được nhờ mang thai hộ. Trường hợp vợ chồng có con chung nhưng người con đó đã chết và có đủ các điều kiện khác theo quy định về quyền nhờ mang thai hộ thì họ vẫn có quyền nhờ mang thai hộ. Trong trường hợp cặp vợ chồng đã có con mà con mắc hội chứng Down, bệnh thần kinh, bệnh hiểm nghèo, dị tật thì không có quyền nhờ mang thai hộ.
- Được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý để hiểu rõ bản chất của vấn đề mang thai hộ, tránh những sai sót, kiện tụng sau này do thiếu hiểu biết. b) Người được nhờ mang thai hộ phải có đủ các điều kiện sau đây:
- Là cha, mẹ cùng hàng bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ. Với người này, chúng tôi muốn nói: anh, chị, em, em cùng cha mẹ, cùng cha, cùng mẹ, cùng cha; anh, chị, em, cậu, bác, cô, chú, dì của họ; anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc anh cùng cha khác mẹ, khác cha (theo khoản 7 điều 2 của nghị định 10/2015/NĐ -CP)
- Đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần. Việc sinh con trước sẽ giúp người phụ nữ chuẩn bị tâm lý, tinh thần cũng như có kinh nghiệm, kỹ năng chăm sóc bản thân và thai nhi để đảm bảo cho việc thực hiện mang thai hộ. Quy định mang thai hộ một lần để tránh trục lợi thương mại
- Có độ tuổi phù hợp và được cơ quan y tế có thẩm quyền xác nhận về khả năng mang thai hộ. Pháp luật không có quy định cụ thể về độ tuổi thích hợp, có thể cho rằng độ tuổi sinh đẻ nói chung là từ 20-35 tuổi, lúc này cơ thể phụ nữ đã phát triển toàn diện về trí tuệ và thể chất. . Các điều kiện được tổ chức y tế có thẩm quyền xác nhận không chỉ nhằm đảm bảo sức khỏe cho người được mang thai hộ mà còn đảm bảo sức khỏe cho đứa trẻ, hạn chế tối đa mọi rủi ro có thể xảy ra.
- Trường hợp bên mang thai hộ có chồng thì phải được sự đồng ý bằng văn bản của chồng;
- Đã được tư vấn về các cấp độ y tế, pháp lý và tâm lý.
Nội dung y tế được tư vấn như các nguy cơ, biến chứng có thể xảy ra trong quá trình mang thai như sảy thai, thai ngoài tử cung, băng huyết, khả năng đa thai, dị tật phải bỏ thai,… Nội dung tư vấn này nhằm cung cấp thông tin về các nguy cơ, biến chứng ảnh hưởng đến thai kỳ. sức khỏe mà người nhận mang thai có thể có.
Hậu quả pháp lý cơ bản liên quan đến nội dung pháp lý cần tư vấn và quan trọng nhất là mối quan hệ hoặc xác định cha, mẹ, con giữa đứa trẻ được sinh ra với các bên liên quan. Người mang thai hộ cũng cần được tư vấn về tâm lý, tình cảm gia đình, tình bạn trong quá trình mang thai hộ và tâm lý cho con đẻ của mình.
3. Thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
Trường hợp vợ, chồng không thể tự mình mang thai và sinh con mà thỏa thuận được với người khác về việc mang thai hộ thì phải giao kết văn bản thỏa thuận về việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Văn bản thỏa thuận này cần có những nội dung chính sau đây theo quy định tại Điều 96 Luật hôn nhân và gia đình 2014. - Thông tin đầy đủ về bên nhờ mang thai hộ và bên được nhờ mang thai hộ theo các điều kiện có liên quan;
- Cam kết thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật;
- Giải quyết hậu quả trong trường hợp tai biến sản khoa; hỗ trợ bảo đảm sức khỏe sinh sản của bên nhờ mang thai hộ khi mang thai và sinh con, việc bên nhờ mang thai hộ nhận con làm con nuôi, quyền và nghĩa vụ của các bên đối với con trong trường hợp không giao con cho bên nhờ mang thai hộ và các vấn đề khác. quyền và nghĩa vụ;
- Trách nhiệm dân sự trong trường hợp một hoặc hai bên vi phạm các cam kết trong hợp đồng.
Ghi chú:
- Việc thỏa thuận mang thai hộ phải được lập thành văn bản và có công chứng. Trường hợp vợ, chồng của bên nhờ mang thai hộ ủy quyền cho nhau hoặc vợ, chồng của bên nhờ mang thai hộ ủy quyền cho nhau để thỏa thuận thì việc ủy quyền phải được lập thành văn bản. Việc ủy quyền cho bên thứ ba không có hiệu lực pháp lý.
- Trường hợp thỏa thuận mang thai hộ và người nhờ mang thai hộ được ký kết bằng văn bản thỏa thuận giữa họ với cơ sở y tế thực hiện việc đỡ đẻ bằng phương pháp hỗ trợ sinh sản thì văn bản thỏa thuận này phải được người có thẩm quyền của cơ sở y tế đó xác nhận.
4. Vấn đề cho phép mang thai hộ nhân đạo tại Việt Nam:
Từ quan điểm xã hội, quy định của con người về việc mang thai hộ giúp các cặp vợ chồng có vấn đề về sức khỏe có khả năng sinh con theo ý muốn của họ. Điều này cũng phù hợp với truyền thống văn hóa mong muốn có con của người Việt Nam. Pháp luật cho phép mang thai hộ sẽ hạn chế được việc mang thai hộ, mang thai hộ và mua bán trẻ em. Tuy nhiên, việc cho phép mang thai hộ nếu không được quy định chặt chẽ sẽ tiềm ẩn nhiều nguy cơ:
- Nghi vấn “du lịch sinh sản”: Việc cho phép thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm để mang thai hộ với chi phí thấp hơn ở Việt Nam có nguy cơ kéo nhiều cặp vợ chồng nước ngoài đến Việt Nam hành nghề đẻ thuê. Như vậy, vì lợi nhuận và vì kinh tế khó khăn, có thể có trường hợp phụ nữ Việt Nam trở thành công cụ sinh con đẻ cái. Những đứa trẻ này có thể được hợp pháp hóa bằng con nuôi ở nước ngoài. Tuy nhiên, cũng có nhiều rủi ro cho người mang thai hộ và đứa trẻ nếu cha mẹ người nước ngoài ly hôn và không muốn nhận con làm con nuôi hoặc thủ tục nhận con nuôi phức tạp, mất nhiều thời gian. … Trong trường hợp này, cần có quy định hạn chế việc mang thai hộ cho người nước ngoài và có cơ chế bảo vệ phụ nữ, trẻ em.
Để hạn chế vấn đề này, dự thảo Nghị định quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo quy định chỉ những người ruột thịt trong cùng một gia đình mới được thực hiện việc mang thai hộ. (anh, chị, em cùng cha mẹ; cùng cha, cùng mẹ, cùng cha; anh, chị, em, chú, bác, cậu, mợ) cậu, mợ; anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc của anh cùng cha khác mẹ, cùng mẹ). Ngoài ra, dự án cấm tặng trứng cho người nước ngoài, trừ trường hợp người nhận là người gốc Việt.
- Luật Hôn nhân và gia đình quy định chỉ những người thân thích của bên nhờ mang thai hộ mới được thực hiện việc mang thai hộ. Tuy nhiên, điều này sẽ hạn chế nghiêm trọng đối tượng được thực hiện mang thai hộ và tạo ra sự bất bình đẳng đối với những trường hợp không có người thân cùng hàng. Bên cạnh đó, chi phí cao khi thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm cũng là trở ngại lớn đối với những cặp vợ chồng không thể có con nhưng cũng không đủ khả năng thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm để mang thai hộ. Nó cũng có thể gây ra những phản ứng tiêu cực từ đối tượng đó và duy trì tình trạng mang thai hộ bằng cách quan hệ tình dục trực tiếp để có con. - Bác sĩ, nhân viên tại các trung tâm hỗ trợ sinh sản có thể là người “giúp” việc mang thai hộ đối với một số đối tượng không đủ điều kiện. Điều này có thể làm giảm giá trị nhân văn của kỹ thuật này và gây hậu quả xấu cho xã hội.
- Có thể người mang thai hộ khi mang thai nảy sinh tình cảm, yêu thương con, sau khi sinh con lại giấu giếm muốn giao con cho cha mẹ đẻ thuê hoặc đến thời điểm sinh con mà không cho. những đứa trẻ. Điều này có thể dẫn đến mâu thuẫn, tranh chấp kéo dài, ảnh hưởng đến cuộc sống của các bên liên quan, đặc biệt là đứa trẻ.
- Việc mang thai hộ có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của người mang thai hộ trong quá trình mang thai và sinh nở, thậm chí có thể dẫn đến việc người mang thai hộ tử vong, sinh con bị dị tật, người mang thai hộ bị thương tật, sảy thai nhưng lại giao cấu với người khác để mang thai hộ. lừa dối người nhờ mang thai hộ…, cần có những quy định chặt chẽ về sức khỏe, đạo đức của người mang thai hộ cũng như về quyền và nghĩa vụ của các bên. - Việc mang thai hộ không nhằm mục đích kinh doanh nhưng có thể là lý do để bên nhờ mang thai hộ đòi tiền, lợi ích vật chất của bên nhờ mang thai hộ sau khi mang thai hộ.
- Có thể xảy ra tranh chấp về quyền thừa kế của con với người mang thai hộ hoặc việc con đòi biết sự thật về người đã sinh ra mình. Cha mẹ thực sự là ai?
- Có trường hợp người phụ nữ bị chồng hoặc họ hàng bên chồng ép buộc mang thai hộ hoặc người phụ nữ mang thai hộ mà người chồng không biết. Nó cũng sẽ có tác động rất lớn đến sự an toàn và phát triển của đứa trẻ cũng như các mối quan hệ tình cảm và đạo đức của các bên liên quan. - Trường hợp con được sinh ra, vợ chồng nộp đơn ly hôn nhờ mang thai hộ, không ai muốn nhận con. Như vậy, đứa trẻ bị đặt vào hoàn cảnh không ai muốn nuôi nấng và rất dễ bị bỏ rơi.
- Tương tự như lo ngại của nhiều quốc gia không cho phép mang thai hộ, việc cho phép mang thai hộ ở Việt Nam có thể gặp các vấn đề sau:
Việc tách trẻ sơ sinh ra khỏi người mang thai hộ có thể gây hại cho sự phát triển của cả đứa trẻ và cha mẹ của người mang thai hộ. Khác biệt với những đứa trẻ khác có thể gây ra trầm cảm do ám ảnh bị bỏ rơi;
Mang thai và sinh con có thể gây hại cho cơ thể của người mang thai hộ vì lợi ích của người khác. Mang thai và sinh nở nhiều lần khiến cơ thể suy yếu và ảnh hưởng đến sức khỏe của người phụ nữ sau này. Ngoài ra, còn có nguy cơ bị bóc lột và thương mại hóa việc mang thai hộ. Bồi thường hợp lý và có kiểm soát vẫn là một động lực kinh tế ảnh hưởng đến việc mang thai hộ;
Người mẹ đẻ thuê có nguy cơ trở thành công cụ sản xuất và đứa trẻ trở thành hàng hóa;
Trên thực tế, việc cho phép hạn chế mang thai hộ không chấm dứt các hành vi bất hợp pháp. Những người không đáp ứng các yêu cầu của pháp luật (ví dụ: các cặp đồng giới hoặc phụ nữ không có điều kiện y tế cho phép sử dụng đẻ thuê) luôn tìm mọi cách để thực hiện mong muốn có quan hệ huyết thống với người này hoặc người kia.
Trái với quy luật tự nhiên theo đó người mẹ sinh ra đứa trẻ là mẹ hợp pháp, đã nảy sinh khái niệm “mẹ sinh học”.
Nội dung bài viết:
Bình luận