Luật sư có được bào chữa cho người thân

1. Luật sư là gì? 

 Luật sư là người đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn và yêu cầu hành nghề theo quy định của pháp luật, là người thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tập thể (sau đây gọi chung là khách hàng). 

 Nguyên tắc thực hành pháp luật: 

 - Tôn trọng Hiến pháp và pháp luật. 

  - Tôn trọng quy tắc ứng xử và đạo đức  luật sư Việt Nam.  - Độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan. 

  - Sử dụng các biện pháp của pháp luật để bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng. 

  - Chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động nghề nghiệp của luật sư. 

  2. Người bào chữachữa là gì?

 Khi luật sư bào chữa tham gia tố tụng.  Người bào chữa là người được người bị buộc tội  hoặc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định và là người được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng  nhận bản ghi biên bản bào chữa. 

 

 - Luật sư. 

 - Đại diện bị cáo. 

 - Luật sư nhân dân.  

 - Trợ giúp  pháp lý trong trường hợp  bị can là đối tượng được trợ giúp pháp lý. Khi luật sư bào chữa tham gia tố tụng: 

 

 - Luật sư bào chữa tham gia tố tụng kể từ khi khởi tố bị can. 

 - Trong trường hợp bắt, tạm giam người trước khi xét xử thì luật sư bào chữa tham gia tố tụng từ thời điểm người bị bắt có mặt tại trụ sở của Cơ quan điều tra, cơ quan  tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc từ thời điểm có quyết định tạm giữ.  

 

 - Trường hợp cần giữ bí mật việc điều tra đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng  có  quyền quyết định việc đưa luật sư bào chữa vào tham gia tố tụng ngay khi kết thúc điều tra. 

 th?id=OIP

 

  3. Ai có quyền lựa chọn người bào chữa cho bị cáo? 

Căn cứ vào Điều 75 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định về việc lựa chọn người bào chữa như sau: 

 

 - Người bào chữa do người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ lựa chọn.  

 - Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận được đơn yêu cầu người bào chữa của người bị bắt , bị tạm giữ thì cơ quan có thẩm quyền đang quản lý người bị bắt, người bị tạm giữ có trách nhiệm chuyển đơn này cho người bào chữa, người đại diện hoặc người thân thích của họ.Trường hợp người bị bắt, người bị tạm giữ không nêu đích danh người bào chữa thì cơ quan có thẩm đang quản lý người bị bắt, bị tạm giữ phải chuyển đơn này cho người đại diện hoặc người thân thích của họ để những người này nhờ người bào chữa. 

  Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được yêu cầu người bào chữa của người bị tạm giam thì cơ quan có thẩm quyền đang quản lý người bị tam giam có trách nhiệm chuyển đơn này cho người bào chữa, người đại diện hoặc người thân thích của họ.Trường hợp người bị tạm giam không nêu đích danh người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền đang quản lý người bị tạm giam phải chuyển đơn này cho người đại diện hoặc người thân thích của họ để những người này nhờ người bào chữa. 

 

  - Trường hợp người đại diện hoặc người thân thích của người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam có đơn yêu cầu nhờ người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo ngay cho người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam để có ý kiến về việc nhờ người bào chữa.  

 - Người bị buộc tội,người đại diện hoặc người thân thích của họ đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận từ huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương trở lên cử bào chữa viên nhân dân để bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức minh.  Như vậy,  bị cáo, người đại diện hoặc người thân thích của họ là những người có quyền lựa chọn người bào chữa. 

  4. Luật sư có thể bào chữa cho người thân của họ không? 

Theo quy định tại Điều 72 Bộ luật tố tụng hình sự 2015  quy định người bào chữa có thể là luật sư. Luật sư sẽ là người được người bị kiện hoặc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng mời đến và là người được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng  nhận  đăng ký bào chữa.  Tiêu chuẩn của luật sư là công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân theo Hiến pháp và pháp luật, có tư cách tốt, có bằng cử nhân luật,  được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khỏe tốt và có khả năng hành nghề  luật sư. Người có đủ điều kiện  hành nghề luật sư nêu trên phải có chứng chỉ hành nghề luật sư và là thành viên của đoàn luật sư. 

 

 Theo quy định tại Khoản 5 Luật Luật sư 2006 sửa đổi, bổ sung Luật Luật sư 2012  quy định nguyên tắc hành nghề luật sư phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật, tôn trọng quy tắc ứng xử và ứng xử nghề nghiệp luật sư, độc lập, trung thực, tuân theo sự thật khách quan, sử dụng các biện pháp hợp pháp để bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng và chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động nghề nghiệp của luật sư.  

 Những người sau đây không được miễn: 

 

 - Người  tiến hành tố tụng đối với trường hợp này; thân nhân của người khởi xướng hoặc đang theo đuổi vụ án này. 

 - Những người tham gia vụ án này với tư cách là người làm chứng, người giám định, chuyên gia bất động sản, người phiên dịch hoặc người dịch thuật.  - Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, người  chưa được xóa án tích, người  bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc. 

  Như vậy, luật sư là người thân thích có nghĩa vụ bào chữa cho bị can nhưng người đó không thuộc  trường hợp  không thể bào chữa  được  cho  bị cáo.

 5. Quyền và nghĩa vụ của luật sư bào chữa 

 * Quyền của luật sư bào chữa: 

 

 - Gặp hỏi  bị cáo. 

 - Có mặt khi lấy lời khai của người bị bắt, người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu được người có thẩm quyền  lấy lời khai, hỏi cung đồng ý thì được hỏi cung người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can. Sau mỗi phần phát biểu hoặc xét hỏi  của người có thẩm quyền, luật sư bào chữa có thể hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can. 

 

  - Có mặt trong quá trình đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói và các hoạt động điều tra khác do Bộ luật này quy định. 

 - Được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thông báo trước về thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung và thời gian, địa điểm tiến hành các hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. 

  - Xem biên bản các hoạt động tố tụng có sự tham gia của họ, các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa.  

 - Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người giám định bất động sản, người phiên dịch, người dịch thuật; đề nghị sửa đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn,  cưỡng chế.  - Đề nghị tiến hành hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; yêu cầu triệu tập người làm chứng, người tham gia tố tụng khác, người có thẩm quyền chịu trách nhiệm tiến hành tố tụng. 

  - Thu thập và đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu. 

  - Xem xét, đánh giá, trình bày ý kiến ​​về chứng cứ, tài liệu, đồ vật có liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng xem xét, đánh giá. 

  - Yêu cầu các cơ quan  tiến hành tố tụng có liên quan thu thập chứng cứ, tiếp tục giám định, xem xét, định giá lại tài sản. 

  - Đọc, ghi chép, sao chụp  tài liệu  vụ án liên quan đến việc bào chữa kể từ khi kết thúc điều tra.  - Tham gia xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. 

  - Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. 

 

  - Kháng cáo bản án, quyết định của Toà án nếu bị cáo là người chưa đủ 18 tuổi hoặc có nhược điểm về tâm thần, thể chất theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. 

  * Luật sư bào chữa phải: 

 

 - Dùng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm rõ những tình tiết xác định  bị can vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo. 

  - Trợ giúp pháp lý cho bị can để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. - Không được từ chối bào chữa cho  bị cáo mà mình đã  bào chữa, trừ trường hợp bất khả kháng hoặc  do trở ngại khách  quan.  

 - Tôn trọng sự thật, không  mua chuộc,  ép buộc, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật. 

  - Có mặt khi được Toà án triệu tập. 

 - Không  tiết lộ bí mật điều tra mà mình biết được trong quá trình bào chữa; không được sử dụng tài liệu được ghi chép, sao chụp trong hồ sơ  vào mục đích gây phương hại đến lợi ích công cộng, quyền và lợi ích của cơ quan, tổ chức, cá nhân. 

  - Không được tiết lộ thông tin về vụ án, về  bị cáo mà mình biết khi bào chữa trừ trường hợp được người đó đồng ý bằng văn bản và không được sử dụng những thông tin đó vào mục đích gây phương hại đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

 

Nội dung bài viết:

    Đánh giá bài viết: (1063 lượt)

    Để lại thông tin để được tư vấn

    Họ và tên không được để trống

    Số điện thoại không được để trống

    Số điện thoại không đúng định dạng

    Email không được để trống

    Vấn đề cần tư vấn không được để trống

    Bài viết liên quan

    Phản hồi (0)

    Hãy để lại bình luận của bạn tại đây!

    084.696.7979 19003330 Báo giá Chat Zalo